Tin tức

  Thống kê truy cập
Đang truy cập
Lượt truy cập
  LÂM NGHIỆP QUỐC DOANH - BẠN ĐI VỀ ĐÂU

LÂM NGHIỆP QUỐC DOANH - BẠN ĐI VỀ ĐÂU

Cầm Sơn

 
(Vai trò của Quốc doanh Lâm nghiệp trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng ở các tỉnh miền núi phía Bắc)
 
  
Vừa rồi tôi có được nghe thông tin về việc Tổng Công ty Giấy Việt Nam đang chuẩn bị cho sáp nhập các Công ty Lâm nghiệp nhằm thu gọn, giảm đầu mối hoạt động. Dẫu đã nghỉ hưu cách đây 8 năm và bây giờ đang hoạt động ở một lĩnh vực có mối quan hệ đa ngành và từ lâu ít có dịp quay trở lại với ngành Lâm nghiệp. Nhưng tình yêu đối với rừng, đối với nghề trong tôi chưa khi nào nhòa nhạt. Vậy nên tôi thấy không thể không viết ra những dòng tâm sự từ một người từng cả đời công tác suốt 40 năm gắn bó với những thăng trầm, suy thịnh của các Lâm trường trên mảnh đất Phú Thọ trong đó trước khi nghỉ hưu đã có 15 năm làm giám đốc kiêm bí thư Đảng ủy một công ty Lâm nghiệp.
   Mỗi một đơn nguyên thực thể dù lớn bé, to nhỏ, cao thấp, dù là bất cứ loại hình gì cũng đều có những số phận riêng. Nhưng tất cả cùng có một quy luật chung là đều có điểm khởi đầu và điểm kết thúc. Số phận của những đơn nguyên thực thể phát triển, suy vong, tồn tại dài hay ngắn phần lớn là do chính nó tự quyết định. Ví như một đời người từ khi sinh ra lọt lòng mẹ đã có nhận thức về thế giới nên nó mới khóc. Lớn lên được cha mẹ, gia đình nuôi dưỡng nhưng bản thân đứa trẻ phải học tập, phải rèn luyện để phát triển cùng với cộng đồng. Sau này lớn lên nó có thể trở thành một người nổi tiếng nhưng cũng có thể chỉ là một người bình thường hoặc là một kẻ khốn khó bần cùng. Có người sống lâu trên trăm tuổi nhưng cũng có người yểu vong chưa đầy chục tuổi đã chết. Có người sống khỏe khoắn, tươi vui suốt cả cuộc đời và đến cõi chết một cách nhẹ nhõm, thanh thản. Cũng có người cả đời khốn khó đến tuổi về gia lại đau lên, ốm xuống cơ cực, não nề, liệt giường liệt chiếu hàng năm mới chết được...
  Bây giờ tôi xin bàn tới một thực thể chính của bài viết này, ấy là vai trò trong sự nghiệp quản lý phát triển rừng của các lâm trường Quốc doanh và ngày nay gọi là các công ty lâm nghiệp trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc. Và trong phạm vi khuôn khổ một bài viết tôi cũng chỉ xin đưa ra ví dụ của hai lần thất bại trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp cùng ý kiến đánh giá chủ quan của tôi. Rất mong được nhiều chuyên gia, nhiều bạn đọc quan tâm đến ngành Lâm nghiệp cùng tham bàn, ngõ hầu được rộng đường dư luận.
   Tôi xin được lấy địa chỉ ở tỉnh Phú Thọ, nơi có Nhà máy Giấy Bãi Bằng làm đại diện bởi hoạt động của các lâm trường ở các tỉnh trong khu vực cũng tương tự như nhau. Các lâm trường ở Phú Thọ được hình thành từ những năm 60 thế kỷ trước thuộc Ty Canh nông Phú Thọ. Lúc đầu nhiệm vụ chủ yếu là khai thác lâm sản phục vụ công tác xây dựng cơ bản và trồng rừng phòng hộ bằng nguồn vốn Ngân sách cấp. Hàng năm, có tới vài chục ngàn mét khối gỗ, vài chục triệu cây nứa đã được khai thác từ rừng đem về xuôi cung ứng nguyên liệu cho ngành Xây dựng. Nếu như bây giờ thì những hành động ấy được coi là hành động phá rừng nhưng lúc bấy giờ để hoàn thành kế hoạch khai thác gỗ, nứa hàng năm đã sản sinh ra biết bao tấm gương lao động quên mình vì chủ nghĩa xã hội. Không ai ở huyện Thanh Sơn có thể quên chiến dịch trồng rừng của Ty Lâm nghiệp Vĩnh Phú diễn ra vào năm 1983. Hơn hai ngàn héc ta rừng được phát trắng, hàng vài ngàn dân công được huy động từ nhiều huyện trong tỉnh đổ dồn về Thanh Sơn thành lập nên các công trường để thực thi nhiệm vụ trồng hai ngàn héc ta rừng này. Bấy giờ tôi đang là nhân viên thống kê kiêm kỹ thuật ở một đội thuộc Lâm trường Thanh Sơn. Có lần, tôi được ngôi lên một chiếc xe Gat69 đi cùng với một đồng chí phó ty Lâm nghiệp, một đồng chí trưởng phòng Quy hoạch của ty và bác Nguyễn Hữu Ngạn phó trưởng phòng Quy hoạch với nhiệm vụ nhận hiện trường trồng rừng. Đến một địa điểm trên đoạn đường từ Khả Cửu đi Thượng Cửu thì xe dừng lại. Bác Nguyễn Hữu Ngạn trải tấm bản đồ xuống mặt đường lấy bút chì quét một khoanh, hai khoang rồi ba khoanh, sau đó bác chỉ tay nói với tôi đấy là những lô rừng sẽ cho các tổ dân công lên phát cải tạo để trồng lại rừng. Tôi hỏi thế phải có hồ sơ thiết kế chứ? bác Ngạn bảo cùng một lúc chúng tôi phải thiết kế mấy ngàn héc ta rừng thì làm sao kịp, đội các ông cứ chỉ cho họ phát cải tạo vào những lô rừng ấy, sẽ có hồ sơ bàn giao sau! Thế là ngay sau đấy, người từ các nơi ồ ạt kéo đến thành lập nên các công trường. Họ có nhiệm vụ phát chặt trắng mà thuật ngữ nghề nghiệp gọi là phát cải tạo rừng. Những cánh rừng không chỉ là rừng nghèo, mà có cả rừng nguyên sinh gỗ, nứa. Cũng không chỉ là nứa tép, kể cá nứa năm, nứa bẩy và nứa dại to như cái bát ăn cơm cũng bị phát trắng biến thành lửa. Lửa đốt rực trời, tro trên đồi lội dầy ngập mắt cá chân. Thứ thu hổi tận dụng được chỉ còn lại là củi và gỗ tận dụng cháy nham cháy nhở. Hàng trăm ngàn ste củi lại được lên xe chở về xuôi...Và hai ngàn héc rừng, lô được trồng lại bằng cây mỡ, lô được trồng lại bằng gieo hạt bồ đề đã hoàn thành kế hoạch của Ty Lâm nghiệp và cái kế hoạch này không phải tự dưng mà có. Nó là kết quả của sự tung hứng nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ năm (1982). Trong nghị quyết có nội dung: “...mở các công trường thủ công...từng bước đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa...”. Sau cái gọi là “ Sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa” ấy, trong khi có người được thăng chức, đảm nhiệm chức vụ cao hơn ở hàng tỉnh, nhiều người được tặng thưởng bằng khen, giấy khen...thì hai ngàn héc ta rừng khi dân công rút đi, các đội sản xuất của lâm trường không đủ nhân lực để bảo vệ, chăm sóc đã ngậm ngùi thay thế gỗ, nứa trước kia bằng lau sậy, cỏ rác mà cho đến tận ngày nay nhiều khoảnh núi vẫn còn dấu ấn trọc lốc từ “cơn bão công trường” ngày ấy. Đấy là ví dụ thất bại thứ nhất và nhận định theo ý chủ quan của tôi thì ngày ấy tất cả từ cán đến quân đều một lòng một dạ mong muốn cho ngành phát triển nằm trong một đất nước phát triển. Nhất nhất chấp hành nghị quyết, chỉ thị của trên một cách tuyệt đối. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thư 5 chẳng có gì sai nhưng vận dụng vào từng trường hợp cụ thể chưa chắc đúng. Và cái chưa chắc đúng của chiến dịch công trường trồng rừng ngày ấy hoàn toàn không có động cơ vụ lợi, chỉ là nóng vội, hay nói thẳng ra là “u tối” mà thôi. Và chúng ta đều biết đến một công thức người ta đã nhắc đến nhiều lần: “Nhiệt tình + u tối = phá hoại”
  Các lâm trường tiếp tục được bơm vốn Ngân sách để trồng rừng song song với khai thác lâm sản đến tận khi có chỉ thị 90 về đóng cửa rừng. Sau chỉ thị 90, các lâm trường không còn có chức năng khai thác lâm sản nữa nên rất khó khăn thậm chí phải nói là khốn đốn. Chỉ đến khi Nhà nước lại ra đời dự án 264 cho các lâm trường vay vốn kinh doanh rừng trồng thì các lâm trường lại hồi sinh.
  Qua nhiều lần ném đi ném lại từ Liên hiệp các xí nghiệp Lâm Nông Công nghiệp Vĩnh Phú sang Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Phú rồi sáp nhập với Công ty Giấy bãi Bằng thành Tổng công ty Giấy Việt Nam. Tiếp nối các lâm trường lại đổi tên thành công ty lâm nghiệp. Nhưng thực chất lâm trường thì vẫn là lâm trường, ở đâu và gọi là loại hình gì thì vẫn là lâm trường và hầu như chẳng đổi mới được gì nhiều. Việc sáp nhập Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Phú về với Công ty Giấy gắn liền khu vực sản xuất sản phẩm với khu vực cung ứng nguyên liệu thực sự là một ý đồ tốt, là một cách nghĩ rất sáng tạo, tâm huyết vì dân, vì nước. Đời sống của hàng triệu người dân trồng rừng trong khu vực miền núi phía Bắc sẽ được ổn định nhờ có nơi tiêu thụ nguyên liệu chắc chắn, tử tế không còn cảnh phải trả tiền để mua một mảnh giấy có chữ ký của ông giám đốc nhà máy phân phối chỉ tiêu nhập nguyên liệu vào Nhà máy giấy Bãi Bằng thông qua những đầu nậu, con buôn ở ngành nọ ngành kia không liên quan gì đến trồng rừng nữa, sẽ không còn cảnh “nước mắt người trồng rừng” như đoạn phim phóng sự tài liệu phát trên sóng VTV1 nữa. Các lâm trường mà sau này là công ty lâm nghiệp cũng sẽ được ổn định làm dịch vụ cung ứng vốn, cây giống, vật tư và vận chuyển nguyên liệu cho người dân trồng rừng trong một mối quan hệ sòng phẳng, bình đẳng, cùng giúp đỡ nhau phát triển.
  Tiếc thay, ý đồ tốt đẹp của những người có tư tưởng đổi mới, vì dân vì nước ấy lại trao quyền thực hiện vào những người có tư tưởng khác hay nói rút gọn lại là ‘Đổi mới nhưng không có con người đổi mới”.
  Vốn để xây dựng Nhà máy Giấy Bãi Bằng do người Thụy Điển trợ giúp cho không. Nguồn vốn ấy được coi như là vốn Ngân sách cấp, mà vốn Ngân sách chính là của Nhân dân. Tính đến những năm các lâm trường sáp nhập vào nhà máy thì nhà máy lúc ấy đã khấu hao hết. Giá trị còn lại của máy móc thiết bị, tài sản cố định bằng không.Theo nguyên tắc thì sản phẩm sản xuất ra vẫn tiếp tục phải trích khấu hao để sử dụng cho mục đích tái sản xuất mở rộng. Bộ máy lãnh đạo nhà máy khi ấy chính là bộ máy lãnh đạo của Tổng công Giấy Việt Nam bởi các công ty Giấy Đồng Nai, Tân Mai... đã cổ phần hóa tách ra khỏi Tổng công ty. Khi ấy, các lâm trường của Tổng công ty đang nắm giữ 66.000ha đất rừng nhưng hàng năm chỉ trồng được trên dưới 2.000ha với lý do vốn chỉ đủ để làm chừng ấy. Cái đó cũng đúng bởi Ngân hàng Đầu tư phát triển họ chỉ cho vay có vậy. Và chẳng qua còn có cái nghị định 264 ràng buộc thì họ mới cho vay chức thực chất là họ không muốn cho vay. Nếu những người lãnh đạo Tổng công ty Giấy bấy giờ thực chất là những người tâm huyết thì họ sẽ không cần vay vốn theo nghị định 264. Nguồn vốn đó để nhường cho bà con nông dân trồng rừng trong vùng nguyên liệu. Nguồn vốn đầu tư để trồng rừng sẽ lấy từ hai mạch chảy tích tụ: Thứ nhất là từ khoản Chính phủ cho phép trích vào giá thành sản phẩm 5% để đầu tư sản xuất nguyên liệu. Thứ hai là quỹ xây dựng cơ bản tái sản xuất mở rộng (từ quỹ trích khấu hao). Với năng lực của nhà máy lúc bấy giờ thừa sức để có thể trích ra 70tỷ VNĐ mỗi năm để có thể trồng 10.000ha/năm (Đầu tư 70% bằng 7 triệu/ha). Nếu họ làm như vậy thì chỉ sau 7 năm khu vực lâm nghiệp của Tổng công ty sẽ có 490 tỷ VNĐ thừa sức để đầu tư quay vòng cho 70.000 ha rừng trồng. Lợi nhuận từ rừng trồng tất nhiên là người đầu tư được hưởng nhưng quan trọng hơn là nguyên liệu giấy sẽ thừa cung cấp cho cái gọi là: “Đầu tư nâng cấp giai đoạn hai” của họ. Nhưng không, họ không làm thế. Thay vì việc đầu tư vào trồng rừng, họ đầu tư vào dự án “Nâng cấp giai đoạn hai”. Do vậy, mặc dù sáp nhập với nhà máy chế biến nhưng các công ty lâm nghiệp Quốc doanh cũng không hề có gắn bó gì nhiều với nhà máy, vốn trồng rừng vẫn là phải trông cậy vào chính sách ưu đãi cho vay của Nhà nước thông qua Ngân hàng Đầu tư phát triển, Nhà nước cho vay nhiều thì trồng nhiều, Nhà nước cho vay ít thì trồng ít. Nhà máy giấy chẳng có vai trò gì trong sự nghiệp phát triển rừng ngoài sự quản lý con người. Không có vai trò gì, không hiểu sâu về sản xuất nhưng lại có quyền kiểm soát con người thì sự thất bại là điều hiển nhiên. Tôi còn nhớ một lần lâm trường Tam Sơn lúc ấy tôi là Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy được đón tiếp một đoàn cán bộ chuyên viên của 6 bộ vào khảo sát, chuyến công tác nằm trong chương trình thẩm định của Chính phủ về dự án “Nâng cấp giai đoạn hai” của Tổng công ty Giấy Việt Nam. Ông Ngô Anh Dũng – Phó Tổng giám đốc Tổng công ty phụ trách khối Lâm nghiệp đưa đoàn vào lâm trường. Mặc dù ông Ngô Anh Dũng đã lên dây cót trước nhưng khi được phát biểu tôi vẫn giữ nguyên ý kiến là lâm trường Tam Sơn chúng tôi chỉ xin giữ lại 4.000ha còn trả lại Nhà nước giao cho dân 7.000ha. Điều này rất rõ ràng và đơn giản bởi mỗi năm trồng được từ 400ha đến 500ha thì lâm trường chỉ cần quản lý 500 x 8= 4.000ha. Đất còn lại thì trả cho dân khỏi lãng phí, khỏi tranh chấp. Ấy vậy mà cuộc họp đến 12giờ mới kết thúc. Cơm dọn ra mâm đã từ lâu vậy mà bác Ngô Anh Dũng đùng đùng dẫn đoàn khách dời lâm trường. Được biết đoàn khách hôm ấy mãi đến 13h30 mới được dùng cơm trưa tại phố Vàng. Nhiều anh em cán bộ lâm trường lo cho tôi vì làm phật ý cấp trên. Tôi bảo anh em gọi tất cả công nhân xưởng xẻ sang giải quyết đám mâm cơm khách và trong thâm tâm, tôi chả thấy lo lắng gì cả. Tại sao vậy? Tại vì thứ nhất tôi biết thừa cái bụng ông Ngô Anh Dũng cũng nghĩ như tôi bởi ông Dũng cũng đã từng là một giám đốc lâm trường. Có điều bây giờ ngồi vào cái ghế Phó Tổng giám đốc thì phải làm việc theo tinh thần cùa Ban lãnh đạo, vả lại ông Dũng cũng chuẩn bị nghỉ hưu nên chắc cũng chỉ muốn “dĩ hòa vi quý” thôi. Thứ hai là ý định xin nghỉ hưu trước tuổi đã hình thành trong đầu tôi, vậy thì mình cũng nên nói thật những suy nghĩ, nhận định của mình. Đằng nào thì mình cũng sẽ không ngồi chung với họ trên một con thuyền vậy thì cần gì mà phải sợ ai nữa để khi nghỉ hưu khỏi phải xấu hổ vì những lời nói dối không đúng với lòng mình nhằm tâng bốc, được lòng cấp trên. Trong khi chẳng chú ý gì đến trồng rừng, mỗi năm chỉ trồng 2.000ha, vậy nhu cầu thực về đất chỉ cần 2.000 x8 = 16.000ha thì họ lại cứ khư khư giữ bằng được 66.000ha đang có và còn tiếp tục đòi được Nhà nước cấp thêm đất nữa. Mục đích chính là làm bình phong cho dự án “Nâng cấp giai đoạn hai”. Còn mục đích chính của cái gọi “Nâng cấp giai đoạn hai” là để mua một nhà máy cũ về lắp đặt. Chẳng thế mà mặc dù chưa được Chính phủ phê duyệt dự án họ vẫn cứ chuyển tiền đi để đặt cọc mua nhà máy cũ với công nghệ đã đắp chiếu từ những năm 1980. Ở những nước tiên tiến, loại nhà máy như thế này còn phải trả tiền để được dọn sắt vụn bỏ ra ngoài bãi thải. Vậy mà sống trong thời đại công nghệ phát triển như vũ bão, cái hôm qua chưa kịp ứng dựng thì hôm nay ở đâu đó người ta đã cho ra lò một công nghệ tiến tiến hơn, năng suất hơn nhưng họ vẫn cứ làm dự án để trình Chính phủ phê duyệt cho bỏ tiền ra mua đống sắt vụn. Rất may là Chính phủ đã chưa kịp phê duyệt và còn may hơn là Chính phủ đã chính thức bác bỏ cái dự án “quái thai” ấy.
  Đến đây, ta thấy rõ là việc sáp nhập Công ty Nguyên liệu giấy Vĩnh Phú vào nhà máy giấy Bãi Bằng về ý tưởng là rất tốt, nhưng thực tế thực hiện lại thành ra hỏng. Đấy là ví dụ thất bại thứ hai và thất bại này vẫn bởi tại con người. Có điều lần này thì không phải do con người "u tối". Ngược lại, tôi cho rằng họ còn là những người thông minh nhưng thông minh quá thành ra thừa, phần thông minh rôi thừa ấy chuyển hóa thành cái gọi là "Lợi ích nhóm". Và công thức lần này có thể viết: “Lợi ích nhóm + quyền lực = phá hoại”.
  Không phải toàn bộ cán bộ công nhân viên của Tổng công ty Giấy nói chung và anh chị em đang công tác trong khối lâm nghiệp nói riêng không biết gì về những việc họ làm. Nhưng ai cũng đều có gia đình, có cuộc sống và dẫu có nói ra thì cũng chả đem lại được cái phách gì, không khéo lại khoác vạ vào thân. Ngay như tôi rũ áo bỏ về viết một bài chính luận về việc sử dụng đất và vai trò của Tổng công ty Giấy Việt Nam trong sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc với bút danh Đinh Thường cùng với phản biện của chị Nguyễn Thị Thu Hà - ủy viên Hội đồng thành viên Tổng công ty Giấy Việt Nam làm ồn ào dư luận được một vài ngày nhưng rồi nó cũng lại bị chìm ngay xuống*. Một cái Tổng công ty nằm dưới sự quản lý của một phế bộ trưởng thì họ làm ăn kiểu ấy cũng không có gì là lạ. Khi xem lại những lập luận của mình vào thời điểm ấy, mặc dù đã cách đây sáu, bảy năm nhưng cho đến ngày hôm nay tôi vẫn thấy nó còn mang đầy đủ tính thời sự.
  
Việc ban lãnh đạo mới của Tổng công ty Giấy có dự kiến cho sáp nhập các lâm trường, trả lại bớt đất để Nhà nước giao cho dân là một việc làm sáng suốt, hợp với quy luật, hợp với lòng dân. Đáng lẽ ra việc này phải xảy ra từ 10 năm trước mới chính xác. Nhưng thôi, muộn mà có làm vẫn hơn không. Tôi chỉ xin lạm bàn thêm một đôi điều như sau: Giá như song hành với việc trả lại đất, không cần sáp nhập mà tách hẳn các lâm trường ra khỏi Tổng công ty Giấy để cổ phần hóa ngay thì sẽ đỡ lãng phí hơn. Với quy mô nhỏ của các công ty lâm nghiệp hiện tại rất phù hợp với mô hình lâm trường cổ phần và nhỏ thì Nhà nước cũng dễ sử lý bán vốn, hợp với túi tiền của các nhà đầu tư trong nước hơn. Chúng ta cần xác định điểm mà các công ty lâm nghiệp Quốc doanh cần đi đến là chuyển hẳn sang loại hình công ty cổ phần hoặc hợp tác xã lâm nghiệp. Và việc này bây giờ mới làm cũng đã là muộn. Ý kiến này tôi đã gửi gắm từ khi viết tiểu thuyết “Xuyên qua cánh rừng” tức là cách đây 5 năm. Mô hình công ty cổ phần nông lâm nghiệp của lão Mánh đúng là do tôi hư cấu. Thiết nghĩ việc hư cấu nhưng dựa trên cơ sở thực tại của một nhà văn đã từng là người lăn lộn trong ngành 40 năm thì chắc cái công ty cổ phần nông lâm ấy sẽ không khác gì những công ty cổ phần được chuyển hóa từ các công ty lâm nghiệp Quốc doanh sau này. Vậy thì còn có lý do gì mà việc cổ phần hóa các công ty lâm nghiệp không làm ngay mà còn tiếp tục sáp nhập, tiếp tục là Quốc doanh và tiếp tục gây lãng phí tiền vốn cho Nhà nước, cho nhân dân. Chúng ta đã từng đi vòng đi vo đã thấy rõ sự thiệt hại, lãng phí qua mỗi lần tách ra hoặc nhập vào mà lại vẫn cứ tiếp tục đi vòng đi vo là cớ làm sao. Lại nữa, việc các công ty lâm nghiệp trả lại đất là điều đúng đắn, đương nhiên phải làm rồi nhưng coi chừng Nhà nước lại bị thêm một phen thua thiệt. Tôi thấy cũng cần cảnh báo việc có thể có những phần tử cơ hội núp sau những cái bóng hoặc dùng vật chất mua chuộc cán bộ lợi dụng việc trả lại đất của công ty Quốc doanh đẻ ra những dự án này, dự án nọ nhằm chiếm đoạt những mảnh đất đồi xôi, rừng mật của các công ty lâm nghiệp Quốc doanh. Tất nhiên việc ấy chưa xảy ra nhưng ai dám nói là nó sẽ không xảy ra? Có điều nếu cổ phần hóa ngay, đánh giá giá trị đất ngay thì ngay từ đầu, Nhà nước đã tránh được những thua thiệt kiểu này, đồng thời cũng là một biện pháp ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực.
  Ngày nay, ai cũng đều thấy rằng sản lượng gỗ rừng nguyên liệu giấy ở các tỉnh miền núi phía Bắc thừa cung ứng cho tất cả những nhu cầu sản xuất của hai nhà máy giấy lớn là An Hòa và Bãi Bằng cùng các nhà máy giấy nhỏ khác trên địa bàn và nhiều nhu cầu sử dụng gỗ dân dụng, đồng thời còn tham gia băm mảnh xuất khẩu. Khối lượng gỗ do các công ty lâm nghiệp Quốc doanh cung ứng chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu là gỗ từ rừng trồng của nông dân trên địa bàn. Những chính sách ưu ái của Nhà nước như cho vay vốn ưu đãi đã dành cho các công ty lâm nghiệp Quốc doanh còn người nông dân trên địa bàn cũng có được chút ít nhưng chẳng đáng gì, ấy vậy mà họ vẫn là đội quân chủ lực của ngành sản xuất. Vậy các công ty lâm nghiệp Quốc doanh có vai trò gì trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng trên địa bàn khu vực?
  Nói vậy thì vậy thôi! Cũng không thể phủ nhận công sức đóng góp của các lâm trường Quốc doanh trong sự nghiệp phát triển và bảo vệ rừng suốt quãng thời gian dài khi người dân còn chưa hiểu, chưa nhận thức được tác dụng của rừng đối với đời sống con người trước đây. Nhưng đến giai đoạn này thì phải nói rằng lâm trường Quốc doanh đã hoàn thành nhiệm vụ và lẽ ra đã phải được chuyển hóa loại hình từ lâu rồi mới đúng.
  Dịp đầu xuân vừa qua, tôi liên tục phải đi viếng đám tang các người bạn mà lẽ ra họ đã chết từ trước tết nguyên đán nhưng nhờ sự tiến bộ của y học hiện đại đã kéo dài sự sống thêm vài ngày để tránh cho những người bạn ấy ra đi vào những ngày tết cổ truyền. Đối với con người thì không có người thân nào dám nói để họ chết đi cho họ đỡ khổ mà cứ vẫn phải “còn nước, còn tát”. Còn bản thân người đến số tôi chắc rằng họ chỉ mong sao mau chóng được chết, để khỏi chịu sự đau đớn, ê ẩm về thể xác. Nhưng còn đối với các công ty lâm nghiệp Quốc doanh? Các bạn cũng là một đơn nguyên thực thể nên các bạn cũng có cuộc đời. Đến nay, vòng đời của các bạn đã hết thì các bạn cũng nên nhanh chóng chết sớm để được ra đi thanh thản, nhẹ nhõm. Hiện nay các bạn sống mà không phải sống, chết thì lại chưa được chết. Thế thì khổ quá! Về điểm này các bạn không giống con người, càng không nên “Còn nước còn tát”. Khi đến thời điểm chết thì được chết càng nhanh càng tốt. Với tư cách là một người bạn thân thiết, đã từng gắn bó suốt cuộc đời công tác với lâm nghiệp Quốc doanh, tôi cũng cầu mong cho các bạn nhanh chóng được kết thúc vòng đời!
                                                                                   C.S

* Bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: "Nhìn lại vai trò của Tổng công ty Giấy Việt Nam trong phát triển trồng rừng kinh tế ở khu vực trung tâm miền núi phía Bắc" theo đường dẫn sau:


 

Ý kiến phản hồi

Cầm Sơn
Vĩ thanh: Cũng chỉ là ý kiến cá nhân của một lão già xấp xỉ ‘xưa nay hiếm”. Có thể đúng, có thể chưa đúng. Rất mong được các chuyên gia lâm nghiệp, chuyên gia kinh tế, các bạn bè quan tâm đến ngành Lâm nghiệp trong tỉnh Phú Thọ, trong Tổng công ty Giấy Việt Nam và trong cả nước cho ý kiến. Nếu có ý kiến trái chiều, phản biện thì càng hay. Xin chân thành cảm ơn các bạn đã đọc bài viết này của tôi!
                                                                       Nhà văn Cầm Sơn
                                          Địa chỉ:  Ban Văn học Công nhân - Hội Nhà văn Việt Nam
                                                Số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
                                               ĐT: 0913 269 931 - Email: soncam52@gmail.com
Trần Đăng Lâu
Ra trường sau 12 năm làm ở 3 lâm trường tôi đã thấy kiểu"Canh chung không ai cho muối". Nên đồng ý chuyển sang đơn vị sự nghiệp. Nhiều người nói tôi hâm! Vâng hâm để sống có ý nghĩa hơn tới 45,6 năm thì hưu. Chúng ta đã xử dụng rừng khác hẳn các cường quốc lâm nghiệp...Lâm trường, rồi cũng như Hợp tác xã NN kiểu cũ, động lực yếu dần.như mọi người đã biết. Tự nhiên đọc bài của Cầm Sơn tôi nhớ lại lời ghi chép của Nhà văn Thép Mới khi Bác Hồ nói với cán bộ: "Trong nhân dân nhiều người còn giỏi gấp trăm, gấp ngàn lần chúng ta". Nếu không giải tán các bác "LT" giao đất cho dân (Tư nhân) thì rừng còn có cơ sống mãnh liệt. Việc xã hội hóa nghề rừng đã minh chứng sáng ngời.
Xin nêu 4 câu thơ hay về "Công trường đốt rừng hàng trăm loài ...để đổi lây 1 loài và 1 loài ấy cũng toi luôn.
"Ơ kìa,ngọn lửa cháy
Lửa cháy ,ở trên đồi
Trong ráng chiều,run rẩy
Hoàng hôn gãy làm đôi.
Những năm làm ở Lt là tua du hí lắm buồn ít vui.

Gửi ý kiến phản hồi

Họ tên
Điện thoại & email
Nội dung
 
 
 
  Bài viết mới
  Hoạt động đó đây
  Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ trực tuyến 2
Tư vấn tạo web
Hỗ trợ trực tuyến 1
Tư vấn tạo web

Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Phú Thọ

Số 1518 Đại lộ Hùng Vương phường Gia Cẩm thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ

Trưởng ban nội dung: Lương Văn Thắng. Phó ban Thường trực: Phùng Văn Vinh.
 Chủ nhiêm Website: Kỹ sư Lâm nghiệp Trần Ngọc Cường
Điện thoại : 02103 818 567 -  Email : cuonglnpt@gmail.com
Bản quyền thuộc Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Phú Thọ