Tin tức
  Thống kê truy cập
Đang truy cập
Lượt truy cập
  SỰ HY SINH THẦM LẶNG

SỰ HY SINH THẦM LẶNG

Võ Thị Xuân Hà
Sự hy sinh thầm lặng
 
Khi tôi ngồi viết về anh, bầu trời Hà Nội đang sũng nước và hầm hập vì ảnh hưởng của cơn bão số 5 có tên lê-ki-ma đang tràn về vùng biển miền Trung Bắc bộ. Cái thuật ngữ “sống chung với lũ”, với nắng nóng và bão tố của người Việt đã được hiện đại hoá, nhân lên thành cách sống, như một cách chịu đựng hoặc một cách thích ứng hoàn cảnh.
Nhưng để “sống chung với lũ”, đã phải có biết bao sự hy sinh…
 
Anh hùng lực lượng vũ trang Phạm Thanh Bình sinh ngày 7 tháng 3 năm 1954; quê tại xã Trùng Khánh, huyện Tứ Lộc, Hải Dương. Năm 1972, ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, anh đã làm đơn tình nguyện vào công tác trong lực lượng công an tỉnh Lai Châu. Chàng trai trẻ vùng đồng bằng sông Hồng ngay lập tức phải thích ứng với mọi hoàn cảnh ở vùng núi huyện Mường Lay, Điện Biên. Anh đã cố gắng làm quen với mọi sinh hoạt, đi lại, lối sống của người dân vùng núi, của đồng bào các dân tộc, đặc biệt là người Thái và người Mông ở Điện Biên. Từ tháng 8 năm 1974 đến tháng 10 năm 1975, với những cố gắng trong công tác, anh được cấp trên cho đi học tại trường hạ sĩ quan an ninh nhân dân tại Tam Dương, Vĩnh Phú. Chuyến đi này khẳng định việc gắn bó thực sự trong ngành an ninh của anh.
Học hết khoá học, anh quay lại Công an huyện Mường Lay công tác. Có vẻ như anh rất hợp với những vùng núi xa xôi thật khác xa với Hải Dương quê anh. Đồng bào trong huyện rất yêu quý những chiến sĩ công an người kinh trẻ măng, quên mình không quản ngại gian khó. Hầu như vùng làng bản nào cũng có mặt các anh. Các anh chính là những đội quân văn hoá mang đến cho đồng bào các dân tộc những hiểu biết văn hoá phong phú dưới xuôi.
Sau đó một năm, vào tháng 11 năm 1976, anh lại được cử đi học Trường Cơ yếu của Bộ Nội vụ đến tháng 5 năm 1977. Học xong anh quay về công tác tại Công an huyện Mường Tè.
Nhiều người hỏi, tại sao anh không xin về dưới xuôi công tác để được gần gia đình. Nhưng anh chỉ cười. Nghĩ mình còn trẻ, lại có nhiều gắn bó với bà con trên này, nếu mình xin về dưới xuôi cũng được ở gần quê hương, nhưng sao cái vùng núi Điện Biên lại có sức cuốn hút tình cảm của mình đến vậy? Anh không bao giờ tự trả lời câu hỏi đó, bởi chính anh cũng đã dần dần hoà nhập vào cuộc sống thiếu thốn trên vùng cao này, coi đây như là quê hương thứ hai của mình.
Công tác ở Mường Tè được 3 năm, anh đi học tiếp ở Trường D21 Bộ Nội vụ. Sau khoá học lần này, từ tháng 5 năm 1981 đến tháng 8 năm 1992, anh về công tác tại Văn phòng Tổng hợp Công an tỉnh. Anh được bổ nhiệm làm Phó Văn phòng Tổng hợp. Do yêu cầu công tác, đến tháng 9 năm 1992, anh lại được phân công và bổ nhiệm làm Phó Giám thị Trại tạm giam tỉnh Lai Châu.
Ba năm sau, anh lại xin về công tác tạiCông an huyện Mường Lay, nơi công tác gắn bó nhất của anh khi bước chân lên miền cao này.
 
Giữa những khoảng thời gian của các khoá học, và những khoảng thời gian được đo bằng trí tuệ, nhiệt huyết của tuổi trẻ, anh đã gặp được một người con gái. Chị đã cho anh một cuộc sống gia đình hạnh phúc. Những đứa con của họ lần lượt ra đời. Chị thay anh chăm sóc con cái vì chính chị còn là một cô giáo cấp tiểu học ở trên vùng sơn cước này. Chính vì thế mà chị rất thông cảm với nghề nghiệp đặc biệt của chồng. Những đứa con của họ thật ngoan ngoãn. Nhưng tiếc thay đứa con trai út lại bị tàn tật ngay từ nhỏ.
Dù hoàn cảnh riêng vô cùng khó khăn, trong suốt quá trình công tác, mặc dù được phân công ở nhiều đơn vị, ở nhiều lĩnh vực công tác khác nhau và phải trải qua nhiều khó khăn thử thách, song ở đâu anh cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Anh là người sống giản dị và trung thực, tận tuỵ với công việc. Anh đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh, giám đốc Công an tỉnh tặng nhiều bằng khen, giấy khen, liên tục được công nhận chiến sĩ xuất sắc.
Tháng 4 năm 1995, mô hình tổ chức được sắp xếp lại theo chỉ đạo của Bộ, Trại giam được sát nhập với Trại cải tạo Điện Biên. Một mặt do yêu cầu của công tác tổ chức, mặt khác do hoàn cảnh gia đình khó khăn: vợ nghỉ mất sức, các con của anh chị đều còn đi học, lại một cháu bị tàn tật, anh đã xin ở lại công tác tại Công an huyện Mường Lay, làm cán bộ đội điều tra.
Chỉ trong một thời gian ngắn công tác ở đơn vị, anh đã cùng đồng đội điều tra khám phá nhiều vụ án hình sự, vụ án kinh tế lớn khá phức tạp, được Ban Giám đốc Công an tỉnh tặng bằng khen đột xuất. Nhưng bằng khen lớn nhất của anh chính là lòng tin yêu của đồng đội, sự trông cậy, tin tưởng của người dân vùng Mường Lay. Anh và gia đình nhỏ của anh đã gắn bó cùng bà con cuộc sống nơi miền sơn cước.
Nơi đây cảnh sắc thật đẹp với những dải núi xanh mờ chân mây, những dòng suối lúc bình thường thật mềm mại như những dải lụa, những con dốc thơm lừng mùi sắn nướng, lũ trẻ ngây thơ mở to con mắt mỗi khi có một chiếc ô tô chạy qua đường bản, đám thanh niên nam nữ gương mặt thanh khiết như cánh lá rừng buổi sớm mai, những cụ già tuổi hàng bao nhiêu vòng đo thời gian, gương mặt như những gốc cây cổ thụ xù xì và rắn chắc… Nơi đây ghi dấu ấn mối tình duy nhất của vợ chồng anh, cũng là nơi những sinh linh bé nhỏ của họ chào đời. Các con của anh chị đã lớn lên nhờ khí trời khí đất trong lành. Thi thoảng, vào lúc rảnh rỗi, anh kể cho các con nghe về vùng quê Hải Dương trù phú của mình. Những lúc ấy, người vợ ngồi mơ màng nhìn ra những cánh rừng hút mắt, chị nhớ lại những ngày mới quen anh, gương mặt chị chợt ửng hồng, xoá đi bao nếp nhăn nhọc nhằn.
Cuộc sống của họ, dù còn nhiều khó khăn nhưng thật hạnh phúc. Anh càng ngày càng thêm nhiều thành tích, càng ngày càng thấy trách nhiệm lớn lao của mình đối với người dân.
 
Mùa mưa năm 1996 ở Lai Châu thật đáng sợ.
Tháng 8 mùa thu nhưng mưa cứ liên miên kéo dài hết ngày này sang ngày khác. Đặc biệt trong hai ngày 17 và 18 tháng 8 năm 1996, do mưa to kéo dài liên tục, các khe suối sườn núi sạt lở, đất đá cây cối ùn ùn kéo về tạo nên một trận mưa lũ lớn chưa từng thấy trong hàng trăm năm trước đó. Toàn bộ địa bàn thị trấn huyện Mường Lay và thị xã Lai Châu bị lũ chia cắt thành những khu vực biệt lập, đi lại rất khó khăn và đặc biệt nguy hiểm, gây hậu quả rất nghiêm trọng về người và tài sản của đồng bào và các đơn vị cơ quan nhà nước. Hàng ngàn cán bộ và nhân dân lâm vào cảnh màn trời chiếu đất.
Trước tình hình đó, cùng với cán bộ chiến sĩ công an huyện Mường Lay, Phạm Thanh Bình đã có mặt tại địa bàn cứu giúp dân ngay từ đầu trận lũ. Anh cùng đồng đội đã dũng cảm  vượt lũ, cứu được nhiều cá nhân và gia đình ở khu vực thị trấn như ông Hoả cán bộ công an đã nghỉ hưu, gia đình chị Mỹ cán bộ kho bạc huyện, chị Thuỷ cán bộ ngân hàng, chị Thoong giáo viên cấp I, anh Hoàn phòng y tế…
Đến khoảng 14 giờ ngày 17 tháng 8, sau khi đã cứu giúp dân ở khu vực ngân hàng, bưu điện và dân khu vực thị trấn, anh được phân công về khu vực khe suối Na Tung để hướng dẫn nhân dân bảo vệ kho thóc của huyện, sơ tán người cùng tài sản của nhân dân.
Khi anh đến nơi, mưa càng to hơn, nước suối đổ về mỗi lúc một hung dữ hơn. Trong khi bà con đang hoảng loạn, anh đã bình tĩnh hướng dẫn và động viên bà con tìm cách thoát ra khỏi tình trạng nguy hiểm. Hàng chục hộ được sơ tán khẩn cấp và an toàn, trong đó có các gia đình anh Thành, chị Thà, chị Thu, ông Tuân… Trong cơn mưa lũ, đêm tối bủa vây gầm thét như cơn cuồng nộ của đất trời, anh cùng đồng đội dùng đèn pin chiếu sáng, kiên trì cùng hai thanh niên địa phương là Lê Xuân Chung và Nguyễn Xuân Kiên tiếp tục lao đi cứu người.
Lúc đó anh đã thấm mệt. Suốt hai ngày trời lo cứu người cứu của. Ngay cả vợ con anh cũng đang cùng mọi người chống chọi với lũ, nhưng anh không thể chỉ lo riêng cho gia đình mình. Lần lượt từng người được đội cứu trợ đưa thoát khỏi khu vực nguy hiểm.
Bằng kinh nghiệm ở rừng, anh và đội cứu trợ nhận thấy có hiện tượng rất đáng sợ, đó là tự nhiên nước suối quanh khu vực cạn sạch. Anh bảo với anh em:
-Như thế này tôi e sắp có lũ lớn rồi. Cẩn thận kẻo gặp phải cơn lũ ác như trong các câu chuyện kể của những người già đấy. Nhanh chân đưa người ra khỏi đây thôi.
Bất ngờ một cơn lũ lớn kéo theo hàng ngàn mét khối đất đá cây cối sầm sập ập xuống.
Phạm Thanh Bình chỉ kịp hô to cho bà con kịp chạy:
“Lũ lũ…!...!...”.
Tiếng kêu báo tin dữ của anh bị lấp chìm trong cơn cuồng nộ của rừng. Cả một thác đất bùn rùng rùng trùm xuống. Lũ bùn tàn nhẫn vùi trong lòng nó biết bao sự sống, biết bao mơ ước và dự định, những ngôi nhà với của cải và những kỷ niệm…
Phạm Thanh Bình đã bị cơn lũ bùn và đất đá vùi lấp trong khi đang ra sức dìu bà con chạy khỏi cơn lũ đáng sợ. Lúc đó đúng 20 giờ 15 phút ngày 18 tháng 8 năm 1996.
Trong suốt hai mươi ngày sau đó, các chiến sĩ lực lượng công an huyện Mường Lay và nhân dân khu vực thị trấn đã tích cực tổ chức việc đào bới tìm kiếm những nạn nhân bị vùi trong lũ bùn, nhưng không tìm thấy thi thể của Phạm Thanh Bình.
Anh hy sinh khi mới ngoài bốn mươi tuổi, với tuổi nghề đã được hai mươi nhăm năm, để lại người vợ là giáo viên cấp I đã nghỉ hưu và 4 đứa con chưa đến tuổi trưởng thành, trong đó có một cháu bị mù loà cả hai mắt từ ngày nhỏ; đời sống gia đình vô cùng khó khăn.
Nhưng tấm gương hy sinh dũng cảm quên mình của Phạm Thanh Bình vì tính mạng và cuộc sống yên lành của người dân là một kho tàng vô giá để lại trong lòng mỗi người dân thị trấn Mường Lay nói riêng và nhân dân tỉnh Lai Châu nói chung. Hình ảnh anh thoát cơn lũ, lặn ngụp cứu vớt dân, đưa dân lên đến những nơi an toàn, rồi gương mặt võ vàng vì đói và ngấm mệt của anh hàng đêm vẫn trở đi trở lại trong lòng những người đồng đội cùng chia bùi xẻ ngọt với anh.
Anh hy sinh, không để lại một nấm mộ, nhưng đời đời người dân Mường Lay thắp hương anh trong trái tim họ, đời đời núi rừng in bóng anh, người anh hùng không bia đá tượng vàng, không có chút gì về của cải vật chất để lại cho vợ con.
Trong số các anh hùng liệt sĩ của Công an Điện Biên, Phạm Thanh Bình là người khi mất đi không những không tìm được thi thể để mai táng, mà gia đình anh lại còn ngổn ngang khó khăn.
Nếu như chúng ta tin rằng anh mới chính là người có cái chết linh thiêng vì núi rừng đã làm tấm bia mộ vĩ đại cho anh, thì biết đâu phần nào an ủi được người vợ lam lũ và những người con nay đã trưởng thành của anh.
 
Tôi cứ mong sẽ chẳng bao giờ còn cái cảnh tang thương như cơn lũ bùn đáng sợ năm ấy. Nhưng nếu thế thì rừng phải là rừng tự nhiên không bị trơ trụi vì bàn tay tàn phá của chính con người.
Mong rừng không bị tàn phá, để giảm thiểu những cơn lũ điên cuồng của núi của rừng. Để nhà nhà được yên vui.
Để nơi xa kia, anh được yên nghỉ…
                                                            V.T.X.H


 

 

Gửi ý kiến phản hồi

Họ tên
Điện thoại & email
Nội dung
 
 
 
  Bài viết mới
  Hoạt động đó đây
  Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ trực tuyến 2
Tư vấn tạo web
Hỗ trợ trực tuyến 1
Tư vấn tạo web

Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Phú Thọ

Số 1518 Đại lộ Hùng Vương phường Gia Cẩm thành phố Việt Trì Phú Thọ

Trưởng ban nội dung: Lương Văn Thắng. Phó ban Thường trực: Phùng Văn Vinh.
 Chủ nhiêm Website: nhà văn Nguyễn Đức Sơn
Điện thoại : 02103 818 567 -  Email : soncam52@gmail.com
Bản quyền thuộc Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Phú Thọ