Tin tức

  Thống kê truy cập
Đang truy cập
Lượt truy cập
  TÌNH RỪNG TÂM SỰ KÝ

TÌNH RỪNG TÂM SỰ KÝ

Cầm Sơn

TÌNH RỪNG TÂM SỰ KÝ

 
   
Chỉ còn một tháng nữa là đến  kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Lâm trường Tam Sơn.  (Nay là Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn). Được biết do tình hình hiện tại Công ty đang  khó khăn nên lãnh đạo công ty không có chủ trương tổ chức kỷ niệm ngày thành lập. Với tư cách là một trong những người có mặt từ những ngày đầu thành lập Lâm trường, gắn bó với lâm trường 22 năm trong đó có 15 năm giữ cương vị  Giám đốc và 12 năm Bí thư Đảng ủy. Tôi rất đồng cảm với những khó khăn mà các bạn lãnh đạo công ty đang phải gồng mình gánh chịu ngày hôm nay. Xin có mấy lời ôn cố, tri tân và tâm tình cùng các bạn .
  Năm 1987, Lâm trường Tam Sơn được thành lập trên cơ sở một đội khai thác gỗ của Công ty Phân phối Lâm sản Vĩnh Phú. Nhiệm vụ lúc bấy giờ chủ yếu là khai thác gỗ rừng tự nhiên. Kế hoạch đến 4.000 mét khôi/năm còn trồng rừng mỗi năm chỉ từ 20 đến 60 ha bằng vốn Ngân sách cấp. Gỗ trên rừng chỉ việc đẵn xuống đem bán lấy tiền, nghe tưởng dễ ăn nhưng thực ra cũng “xương xẩu” lắm. Có những năm mưa triền miên, Lâm trường được quản lý đến 13 chiếc xe vận tải, 2 cái máy kéo gỗ, một xe cần cẩu mà gỗ vẫn cứ bị mục trong rừng không chuyển ra được. Xe ô tô bọc cả xích vào lốp mà vẫn bị sa lầy, đường lâm nghiệp nhão nhoét bùng nhùng như thửa ruộng đang cày dở. Tai nạn đổ xe, chết người luôn luôn rình rập. Một lái xe là con trai  chính đồng chí giám đốc đầu tiên của lâm trường đã cùng chiếc xe Praga lao xuống vực tử vong. Cùng lúc ấy, hưởng ứng theo quan điểm phát triển công nghiệp của Liên hiệp, một quan điểm duy ý chí không dựa trên một nền tảng khoa học công nghệ nào. Lâm trường đã xây dựng một xưởng chế biến bột giấy tốn vài chục triệu đồng (tiền triệu bấy giờ là lớn lắm) sản xuất được vài trăm tấn bột giấy theo công nghệ ngâm vôi nghiền lọc cổ lỗ sĩ bán cho nhà máy giấy Việt Trì, được nửa năm thì nhà máy Giấy Việt Trì lại tạm ngừng sản xuất. Thế là xưởng chế biến bột giấy của Lâm trường cũng phải đóng cửa theo và  vài năm sau bán ... làm sắt vụn.
 Năm 1989, Nghị định 217/CP được áp dụng và sau đó là Chỉ thị 90 về đóng cửa rừng. Lâm trường lúc này ngừng hẳn việc khai thác gỗ rừng tự nhiên chỉ còn nhiệm vụ trồng rừng. Cùng với tình trạng chung của các Lâm trường trong cả nước, Lâm trường hầu như không còn việc làm, đại đa số cán bộ, công nhân xin nghỉ theo Quyết định 176/CP, một số nghỉ tự túc đóng bảo hiểm. Lâm trường không có việc làm vì lúc bấy giở chưa có chủ trương vay vốn trông rừng, ngân sách chỉ cấp cho Lâm trường mỗi năm trồng từ 20 đến 60 ha thôi. Trong khi đó vẫn phải trả lương cho cán bộ và nhân viên quản lý. Lúc ấy tôi làm Kế toán trưởng, anh Cao Chi làm giám đốc, còn nhớ nhờ mối thân quen với anh Nguyễn Văn Chinh – Kế toán trưởng Liên hiệp các xí nghiệp NLG Vĩnh Phú, Lâm trường ký nợ vay cam kết trả bằng Nguyên liệu Giấy để lấy một chiếc xe Toyota cóc ngắn cũ của xí nghiệp Đời sống do anh Thường làm giám đốc. Đi được mấy tháng thì có ý kiến ngoài Liên hiệp nói ra nói vào. Để giữ uy tín cho anh Chinh, Lâm trường lại đem trả cái xe ấy (xe cũ, nếu theo giá bây giờ cũng chỉ đáng vài chục triệu). Thế là cha con lại đi công tác bằng xe máy. Về sinh hoạt thì điện lưới không có phải dùng đèn dầu. Sau này mày mò lắp được cái củ phát điện nước lắp dưới suối cách xa hàng cây số kéo điện về thắp được một vài bóng đèn thì thường xuyên bị tắc rác cứ nhập nhòe như đom đóm, ma chơi. Phải đến năm 1995 hay 1996 gì đó mới được nhận một chiếc máy phát điện 15KW chạy bằng dầu Diezel cũ thuộc dự án viện trợ đời sống của Thụy Điển từ Lâm trường Yên Lập đã có điện lưới không cần dùng chuyển sang, sau đó năm 1999 sáp nhập ba lâm trường thì có thêm một cái nữa của lâm trường Thạch Kiệt. Cứ sửa đi sửa lại, dồn thiết bị của hai cái để đại tu hoàn thiện thành một cái mà cũng phục vụ được điện thắp sáng và bơm nước sinh hoạt cho văn phòng lâm trường đến hàng chục năm trời, đến tận những năm 2003 hay 2004 gì đó mới có điện lưới.
  Năm 1993, thực hiện chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc, dự án 327 ra đời đã là cái phao cứu vớt cho Lâm trường tiếp tục tồn tại. Nhưng cũng chỉ là tồn tại cái vỏ, cái hình hài dặt dẹo giống như người ta cầm hơi để sống chứ không có một chút sinh khí, nội lực nào.
  Lâm trường tiếp tục được cứu cánh  nhờ Dự án 264 về vay ưu đãi phát triển rừng trồng Nguyên liệu Giấy vào năm 1996. Lúc này mỗi năm Lâm trường có kế hoạch trồng 200 ha, tùng tiệm cũng tạm đủ nuôi nhau. Song,  do trình độ  quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ chưa theo kịp với cơ chế quản lý mới. Đầu óc vẫn trì trệ, ỷ nại, dựa dẫm theo nếp nghĩ cũ của thời Kinh tế Kế hoạch bao cấp, cấp dưới thì quen lậy dạ để xin được nhiều hơn người khác, và hãnh diện đấy là tài, đấy là giỏi. Cấp trên thì rất thích những kẻ lậy dạ khéo ấy, khen rằng linh động, linh hoạt, sáng tạo...Cái lề thói này đến ngày nay vẫn thế, nó còn trầm trọng hơn, trình độ điêu luyện hơn, nó được nâng cấp lên thành những nhóm lợi ích bẻ gãy cả nền kinh tế nước nhà...Nhưng thôi! Không lan man nữa, tôi xin quay lại nói về Lâm trường thời kỳ ấy. Việc chính của Lâm trường chỉ là trồng rừng, nhưng  người ta chỉ cần làm sao nghiệm thu  để vay được tiền còn chất lượng rừng bất cần quan tâm. Năng suất rừng bình quân các Lâm trường cao nhất cũng chỉ được 50 mét khối trên một héc ta. Do vậy, hầu như các Lâm trường đều đứng chênh vênh trên bờ vực phá sản. Năm 1999, Lãnh đạo Liên hiệp các xí nghiệp NLG Vĩnh Phú quyết định sáp nhập ba Lâm trường là Tam Sơn, Thạch Kiệt và Thu Cúc thành Lâm trường Tam Sơn. Tôi được cử làm Giám đốc Lâm trường mới và tôi đã phát biểu: “Lâm trường Tam Sơn đang sắp chết đuối, Liên hiệp lại gắn thêm hai hòn đá hai bên nách”. Khi sáp nhập, Lâm trường Thạch Kiệt nợ hẳn một năm lương, Lâm trường Thu Cúc nợ 289 triệu tiền Bảo hiểm Xã hội. Cấp trên họ chỉ biết sáp nhập để xử lý cái mớ lùng bùng trước mắt chứ họ không cần biết anh thế nào. Chính vì vậy, phải lên xuống kêu khản giọng và được Công đoàn can thiệp mới được cấp trên là Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Phú cho vay không lãi 400 triệu thời hạn 3 năm. Có 400 triệu này, Lâm trường đem trả nợ BHXH và lương một năm của Thạch Kiệt chưa đủ. Nhưng khi trả nợ cho BHXH rồi thì họ giải quyết cho một loạt cán bộ, công nhân nghỉ chế độ theo chính sách, vậy là cũng đã xử lý được một trong những ách tắc. Rồi sau gần hai năm, Lâm trường cũng phấn đấu trả hết số nợ đó cho Công ty chứ không cần đến ba năm. Khi sáp nhập ba Lâm trường, mặc dù rất khó khăn về tài chính nhưng lại được một cái thuận lợi là quỹ đất rộng mênh mông, Lâm trường quản lý tới 11.000 ha nên từ năm 2.000 đến 2005, năm nào Lâm trường cũng hoàn thành trên 500 ha rừng trồng mới, có những năm trồng tới 1.000 ha. Để rồi sau này vào những năm 2008, 2009 khai thác tới 30.000 mét khối gỗ. Thế rồi Lâm trường được Chính phủ tặng Bằng khen vào năm 2007, Nhà nước thưởng Huân chương Lao động hạng ba vào năm 2008, Doanh nghiệp tiêu biểu toàn quốc năm 2009, Đảng bộ tiêu biểu trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hổ 2010.  Đời sống của CBCNV được quan tâm chu đáo.
   Là một công ty có sản lượng khai thác lớn nhất toàn tổng công ty nên chắc chắn giám đốc công ty được cấp trên “Đặc biệt quan tâm”, nhất là sau khi anh Ngô Anh Dũng nghỉ hưu thì người lên thay đã thể hiện điều đó rất tích cực. Một mặt vì cái “Đặc biệt quan tâm” ấy cộng với sức khỏe cũng có nhiều giảm sút do nhiều năm làm giám đốc trong điều kiện hoàn cảnh cực kỳ khó khăn đã bị hao tổn nhiều trí lực nên tôi quyết định xin nghỉ hưu trước hai năm. Thực chất là cái “tự ái” đã đầy đến mức tràn ly, cái đầu tôi lúc ấy nó rất bức bối, tôi nghĩ:  Khi khó khăn không ai nhòm tới, khi khá giả thì lại tưởng “Mật từ trên trời chảy xuống”. Vậy thì các người cứ việc nhẩy vào, ngửa cổ há mồm ra mà húp.
    Nói thì nói vậy thôi! tôi cũng không trách gì họ nhiều bởi cái cơ chế ở ta nó vậy. Một cơ chế xin – cho đã tồn tại ăn sâu thành thâm căn cố đế. Người bên dưới đi xin chính cái của mình đang có, kẻ bên trên đem cho cái của người đi xin (rõ ràng là của mình mà vẫn phải đi xin) Cấp dưới cúi đầu lậy dạ, cấp trên vênh  mặt  ban phát. Thử hỏi một người như tôi đã từng làm giám đốc 15 năm, đã từng lên thác xuống ghềnh chèo chống lái con thuyền Lâm trường trải qua những khúc cam go cũng có, vinh quang cũng từng lại phải đi cúi đầu lậy dạ một đứa đàn em thì làm sao tôi làm được việc ấy. Tôi bỏ về mà không hề mảy may luyến tiếc. Cũng có thể suy nghĩ của tôi có phần cực đoan, việc tự ái bỏ về một cách đột ngột của tôi cũng là một lỗi lầm mà hôm nay tôi mới nhìn nhận được. Những người lãnh đạo cấp trên đã bị bất ngờ, lúng túng trong công tác nhân sự. Chính vì vậy, sự trả giá đã quá rõ ràng. Suốt 15 năm tôi làm giám đốc, dù không lớn nhưng năm nào cũng có lãi từ vài chục đến vài trăm triệu. Vậy mà sau khi tôi nghỉ, chỉ 5 năm sau đó, công ty Tam Sơn đã lại đứng trên bờ vực phá sản, thua lỗ hàng chục tỷ đồng. Không chỉ công ty Lâm nghiệp Tam Sơn mà cả hệ thống các Công ty Lâm nghiệp hôm nay đều khó khăn và đang trong tình trạng nửa thức nửa ngủ,  sống thì vật vờ mà muốn chết lại không được chết. Tình hình ấy nói lên điều gì nếu không phải là trách nhiệm của người lãnh đạo Tổng công ty?  Riêng tôi, tôi phải cám ơn họ vì họ đã là nhân vật mẫu cho tôi xây dựng hình tượng những nhân vật lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhũng nhiễu xã hội, vơ hót vật chất cho cá nhân trong cuốn tiểu thuyết “Xuyên qua cánh rừng” . Để rồi nhờ cuốn tiểu thuyết ấy mà tôi trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, được mang tiếng nói của mình góp vào Văn đàn Đất nước, để được bay cao hơn, đi xa hơn trên con đường mới phù hợp với năng lực, sở trường của mình.
  Đến hôm nay nhìn lại chặng đường đã đi qua, ở một góc độ khách quan hơn, với đôi mắt của một nhà văn đứng ở vị trí  tầm nhìn trên Văn phòng Trung ương Hội, về cá nhân, tôi thấy  không có điều gì phải băn khoăn, hổ thẹn về những việc mình đã làm và tôi muốn tâm sự với các bạn rằng: Cái sự hưng, vong, thịnh, suy nó có những quy luật tất yếu của nó. Đừng chủ quan khi hưng thịnh nhưng cũng đừng bi quan khi suy vong. Nhà Phật đã từng dạy “Trong may có mầm mống cái rủi, trong rủi có mầm mống cái may”.
  Nhân dịp chuẩn bị Kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Lâm trường. Tôi xin gửi tặng đến Cán bộ công nhân viên Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn ba bài thơ tôi viết ở ba thời điểm Lâm trường đăng cai các cuộc kỷ niệm ngành Lâm nghiệp Thanh Sơn và đoạn Video Clip ghi một số ca khúc do cán bộ công nhân viên Công ty trình bày.
 
 
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LÂM NGHIỆP
 
Khúc 1: Năm thứ 40
Kính tặng các thế hệ lâm nghiệp Thanh-Sơn
40 câu thơ nhân ngày gặp mặt kỷ niệm năm thứ 40
 
Bốn mươi năm – Bỗng hôm nay
Gặp nhau ôn lại những ngày năm xưa
Thanh sơn rừng núi xa mờ
Buổi đầu Lâm nghiệp bấy giờ những ai?
Núi cao rừng thẳm, suối dài
Mở rừng bạt núi dựng hai Lâm trường
Đồi Dòng – Cường Thịnh mến thương
Đêm ngày rộn rã Bản Mường thêm vui
Mốc son lịch sử chói ngời
Ngành Lâm nghiệp của đất trời Thanh Sơn
Hôm nay bốn chục tuôi tròn
Trải ba thế hệ bước mòn gót chân
Kể từ sáu mốt gian truân
“ Bài ca người thợ rừng” ngân vang đèo
Cho dù vất vả bao nhiêu
Còn nghèo, còn khổ, còn nhiều gian nan
Chẳng kêu ca, chẳng thở than
Thắt lưng buộc bụng cùng bàn cùng lo
Ngày ăn Ngô, Sắn, Bo Bo
Đêm nằm lót lá khô cho ấm mình
Bao gian khổ bấy nghĩa tình
Ngọt bùi cay, đắng có mình có ta
Khi nhập lại, lúc tách ra
Vẫn là Lâm nghiệp một nhà Thanh Sơn.
Núi cao mây phủ gió vờn
Cứ ngân nga mãi cung đờn màu xanh
Này Ông, này Bác, này Anh
Những người đắp luỹ xây thành vinh quang.
Hôm nay chân bước vững vàng
Con đường rộng mở thênh thang rạng ngời
Làm cuộc cách mạng xanh rồi
Tiến vào khoa học đổi đời ngành Lâm
Kể từ bác Dậu, bác Nhâm
Bác Chiêm, bác Lễ, bác Cầu, bác Xương...
Bốn mươi năm một chặng đường
Lớp lớp cán bộ nêu gương rạng ngời.
Công lao xây đắp cho đời
Cho ngành Lâm nghiệp cho người mai sau
Thời gian nhuộm trắng mái đầu
Cho rừng mãi mãi một màu tươi xanh.
(2-2001)
 
Khúc 2: Năm thứ 42
Kính tặng các thế hệ lâm nghiệp Thanh-Sơn
42 câu thơ nhân ngày gặp mặt kỷ niệm năm thứ 42
 
Cảm ơn các Chị, các Anh
Các Ông, các Cụ đã dành thời gian
Vượt bao dốc núi, mây ngàn
Gặp nhau thăm hỏi chứa chan tình nồng
Kỷ niệm xưa có nhớ không
Khe Giang, Đèo Khế, Núi Hồng, Đồng Mai
Nhớ khi “ Nổi sóng Cửa Bài”
“ Vét lòng Bến Sủi” khơi dài lòng sông
Nhớ sao “ Tiếng trống Lai Đồng”
Chiếu Chèo rộn rã “ chung lòng trồng cây”
Con sông Bứa lúc vơi đầy
Bè ai rời bến để dầy nhớ thương
Ta về xóm Cọ mờ sương
Rừng thông xanh tận Đèo Mương, Suối Sài
Mình sang Long Cốc, Xuân Đài
Bồ đề Bãi Muỗi trải dài mênh mông
Mai về ai có nhớ không ?
Đến Tam Sơn phải qua Sông vượt Đèo
Núi rừng trùng điệp cheo leo
Mây giăng ngang lối, cây gieo gió ngàn
Gặp nhau vui sướng vô vàn
Bút nào tả hết cuộc hàn huyên đây.
Bốn hai năm – Một bề dày
Lật trang lịch sử dựng xây Lâm trường
Gập ghềnh qua những chặng đường
Lúc chìm, lúc nổi, lúc cường, lúc suy
Khi hưng thịnh, buổi lâm nguy
Vững lòng quyết chí chẳng gì chuyển lay
Lâm trường xanh bởi ngàn cây
Tình rừng thắm bởi lòng này sắt son
Yêu nhau đâu quản núi non
Tay Quay, Dốc Mịn, Suối Bon, Sông Vèo
Thương nhau chẳng chê nhau nghèo
Đường đang sửa dở vẫn trèo, vẫn qua
Quý nhau chẳng ngại đường xa
Cái tình cái nghĩa là ta với mình
Hiểu nhau như bóng với hình
Như kim với chỉ, như bình với hương
Hôm nay đi vạn dặm đường
Các thế hệ tự bốn phương quây quần
Mừng vui xin chúc mấy vần
An khang – Thịnh vượng – Sức xuân tràn trề.
(2-2003)
 
Khúc 3: Năm thứ 45
Kính tặng các thế hệ lâm nghiệp Thanh-Sơn
45 câu thơ nhân ngày gặp mặt kỷ niệm năm thứ 45
 
Kỷ niệm năm thứ bốn nhăm
Mời các thế hệ về thăm Lâm trường
Xa xôi từ mọi nẻo đường
Đến đây gặp mặt tình thương mặn nồng
Núi đồi ai đã gắng công
Để cho xanh thắm mênh mông điệp trùng
Thế hệ đi trước hào hùng
Qua cuộc kháng chiến chuyển rung đất trời
Ngày nay rừng núi đẹp tươi
Đất nước đổi mới ,con người văn minh
Tự hào ngành của chúng mình
Lâm trường nào cũng đẹp xinh, mạnh giầu
Xuân-Sơn xanh ngắt một mầu
Nguồn gien quý hiếm ở đâu sánh bằng
Ai về ai có nhớ chăng
Nước Ngầu, hang Lạng, núi Lăng , xóm Còn
Xưa đi bằng những lối mòn
Ngày nay xe chạy bon bon dặm dài
Địch- Quả, Long- Cốc, Xuân- Đài
Rừng xanh tít tắp dọc hai bên đường
Ai về Thu- Ngạc , Đèo Mương
Ai xuôi sông Bứa mặt gương trong ngần
Mà nghe suối hát reo ngân
Có rừng giữ nước vì dân trồng rừng
Bản xa đêm sáng tưng bừng
Dòng thuỷ điện cũng từ rừng mà ra
Núi cằn cây vẫn trổ hoa
Rừng cải tạo đất thành ra mỡ mầu
Lắng nghe tiếng hát rừng sâu
Môi trường bền vững, dân giầu ấm no
Rừng vàng đâu phải ai cho
Là cây, là đất, là do sức người
Mời thăm đèo Cón xa vời
Lên cao mà ngắm đất trời cùng xanh
Xưa kia chỉ có cỏ tranh
Mỗi năm một trận cháy thành tro than
Ngày nay trùng điệp bạt ngàn
Rừng khoe thắm sắc, rừng đan lá cành
Cả Lâm trường một mầu xanh
Núi đồi đẹp tựa bức tranh hữu tình
Hôm nay gặp mặt tôn vinh
Ngành lâm nghiệp của quê mình Thanh-Sơn
Chúc ngày càng đẹp giầu hơn
Mái nhà hạnh phúc mây vờn núi xanh
Chồi xuân đơm lộc trĩu cành .
 
(2/2006)

Nhà văn Cầm Sơn (Nguyễn Đức Sơn)

Nguyên Giám đốc, Bí thư Đảng ủy
Lâm trường Tam Sơn - Giai đoạn 1995 - 2010
Hiện nay là Ủy viên BCH Hội KHKT Lâm nghiệp Phú Thọ
Tổng biên tập "Văn nghệ Công nhân" online
Ban Văn học Công nhân - Hội Nhà văn Việt Nam.
 

 

Ý kiến phản hồi

Trần Phúc Hải
Một bài viết tâm huyết của một con người yêu rừng. Những bài thơ Lục bát nhuần nhuyễn chở nặng nghĩa tình Lâm nghiệp thay cho một thiên sử ca về ngành Lâm nghiệp Thanh Sơn. Cám ơn rất nhiều người Cựu binh Lâm nghiệp - Nhà văn Cầm Sơn!

Gửi ý kiến phản hồi

Họ tên
Điện thoại & email
Nội dung
 
 
 
  Bài viết mới
  Hoạt động đó đây
  Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ trực tuyến 2
Tư vấn tạo web
Hỗ trợ trực tuyến 1
Tư vấn tạo web

Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Phú Thọ

Số 1518 Đại lộ Hùng Vương phường Gia Cẩm thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ

Trưởng ban nội dung: Lương Văn Thắng. Phó ban Thường trực: Phùng Văn Vinh.
 Chủ nhiêm Website: Kỹ sư Lâm nghiệp Trần Ngọc Cường
Điện thoại : 02103 818 567 -  Email : cuonglnpt@gmail.com
Bản quyền thuộc Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Phú Thọ