Tin tức
  Thống kê truy cập
Đang truy cập
Lượt truy cập
  CHO XANH THÊM NHỮNG MIỀN ĐỒI

CHO XANH THÊM NHỮNG MIỀN ĐỒI

Ngọc Linh
 
CHO XANH THÊM NHỮNG MIỀN ĐỒI
 
Tam Sơn ngày mới
“Như bác giám đốc cũ đã nói đấy, mấy năm trước, Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn chúng tôi, quả thực chồng chất khó khăn thật. Tôi cũng mới về nhận công tác ở đây chưa lâu, nên nói là có thành tích gì nổi bật thì hơi quá. Ổn định được cũng là quý lắm rồi” – Anh Hoàng Quốc Chính, Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn mở đầu câu chuyện với đoàn nhà văn chúng tôi một cách thành thực.
Là nhà văn, nhưng mấy chục năm công tác đều gắn bó với nghề báo, thành thử nghe anh trao đổi thế, tôi tin ông này rất biết tự trọng, một người biết mình đang đứng ở đâu.
Cũng có thể ông ấy quý và tin nhà văn; chứ đằng thẳng ra, có mấy ông giám đốc khiêm cung đến vậy. Vì thế, tôi biết mình có thêm một dịp may để được về với những người đồng rừng, về với vùng Tây Bắc của Phú Thọ - nơi hôm nay không chỉ xanh mướt màu rừng, mà còn là nơi ẩn chứa bao câu chuyện nghĩa–nhân của bà con các dân tộc Mường, Thái, Dao, Mông, những người đã bám đất để sống và vượt lên, làm đẹp hơn cho đất Tổ mỗi ngày.
Theo như anh Chính cho biết, Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn hôm nay vốn được nhập lại từ ba Lâm trường, nên diện tích trải khá rộng trên địa bàn mười xã, trong đó có chín xã thuộc huyện Tân Sơn của Phú Thọ, và một xã thuộc đất Thanh Sơn. Với diện tích đất được giao quản lý lên tới 3.189 ha, nhưng thực tế đất rừng chỉ có 1700 ha, mà hầu hết được trồng keo phục vụ cho Tổng công ty Giấy Việt Nam, nên cái vòng quay “thu hoạch cây đến kỳ- trồng mới các diện tích đã thu hoạch” tưởng là bài toán khá đơn giản, nhưng lại đòi hỏi sự tính toán vừa khoa học, vừa hợp lý, sao cho mọi thứ đều “thuận với thời tiết, nhưng phải hợp với chu kỳ phát triển của cây”.
Người Tân Sơn, người Thanh Sơn– những người biết và yêu rừng, quý cây keo tai tượng, vẫn luôn nhắc đến những chuyên gia Thụy Điển đầu tiên đã đặt chân đến đất này, mang về cho mảnh đất cằn khô vì sỏi đá cái màu xanh của hy vọng. Bởi, cây keo vốn đâu phải là cây bản địa. Người trồng rừng ở Tam Sơn chỉ biết nó được mang về từ mảnh đất Nam Dương xa xôi, cái mảnh đất mà những người tuổi trên lục thập như chị Khổng Thị Thành được nghe qua câu hát “Quê hương Nam Dương nằm nghe sóng vỗ...”. Còn, lớp trẻ như Nguyễn Đức Minh– Đội trưởng đội sản xuất số 2, Đỗ Đức Thọ- Đội trưởng đội 6... hiểu cặn kẽ hơn về cây keo, về đất nước Indonesia, nơi có giống cây biết bám trong lòng sỏi đá mà bật lên, mà mướt xanh, thì nhận ra điều thẳm sâu trong cái tình mà những người bạn Thụy Điển đã mang đến cho mảnh đất này. Cây keo không chỉ là nguyên liệu quan trọng của ngành giấy, mà từ cây keo, biết bao người lao động đã đổi đời, biết bao vùng đất vốn cằn trơ sỏi đá giờ đã trở thành những cánh rừng vẫy gọi muôn cánh chim về xây tổ; giữ lại trong lòng đồi những giọt nước hiếm hoi để trong tiếng xào xạc của lá, ta nghe rõ hơn tiếng róc rách của suối chiều.
Tôi đã hỏi để được biết, Hoàng Quốc Chính đã có thâm niên tới mười lăm năm làm giám đốc một lâm trường; vào loại có uy tín của Tổng công ty Giấy Việt Nam. Bởi thế, cái chuyện anh được “quăng” về đây cũng chính vì ngành giấy không muốn và dứt khoát không thể để một đơn vị như Tam Sơn vốn đã nổi danh một thời, đã là điển hình của cả ngành giấy Việt Nam những năm đầu của thời kỳ đổi mới, lại đi đến bờ vực nợ nần, khủng hoảng. Đã không ít người được “chọn mặt, gửi ghế” đấy, nhưng người thì từ chối, người thì bỏ cuộc ngay chặng đầu.
“Lửa thử vàng”, trong khó khăn mới biết ai là người thực sự có năng lực. Quyết tâm chưa thể coi là yếu tố cần nhất cho một cuộc thay đổi để hồi sinh. Bản lĩnh chính trị nên được hiểu đầy đủ nhất, không thể thiếu đi sự trau dồi, học hỏi một cách thường xuyên và liên tục để nâng cao năng lực về chuyên môn và nghiệp vụ. Có lẽ, Hoàng Quốc Chính đã hội được những yếu tố ấy. Biết lắng nghe các góp ý chân thành của thế hệ những người đi trước; Biết tập hợp để phát huy hết khả năng vốn có của đội ngũ cán bộ, công nhân đơn vị. Sự hòa đồng, cởi mở mà không suồng sã, thẳng thắn mà không gay gắt của người lãnh đạo cao nhất công ty; Cùng những bước đi quyết liệt trong thay đổi phương thức quản lý, điều hành, đã từng bước làm thức dậy trong mỗi cán bộ, công nhân công ty cái nhiệt huyết với nghề, với rừng, với nơi đã đem đến cho mình niềm tin yêu và khát vọng vươn tới không ngừng. Tam Sơn đã hồi sinh. Bây giờ, về với Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn, gặp bất kỳ một cán bộ, công nhân nào, ta cũng nhận ra trong đôi mắt họ đã ánh lên những tia hy vọng. Năm nay, Tam Sơn phấn đấu trồng mới 300 ha, đồng thời đạt chỉ tiêu khai thác 10.000 tấn/m3 thành phẩm, ổn định mức thu nhập cho người lao động bình quân đạt 4,5 triệu đồng/người/tháng.
Tôi đã gặp Phạm Ngọc Lâm– Đội trưởng đội sản xuất số 1, đơn vị chịu trách nhiệm quản lý tới 850 ha diện tích đất tự nhiên, trong đó có 572 ha rừng trồng; đội được coi là đơn vị chủ lực của công ty khi mà cả năm 2016, công ty khai thác được 13.000 tấn gỗ/m3 thành phẩm, thì riêng đội 1 đã đạt 6000 tấn/m3. Lâm kín đáo và khá khiêm tốn khi nói về mình cũng như về cán bộ, công nhân dưới quyền.
Bây giờ, nhiệm vụ của đội, với biên chế cũ là 9 người, trong đó có 2 làm công tác bảo vệ, còn lại 6 người đảm nhận việc trồng mới, bình quân 1 năm 100 ha, xem ra công việc cũng đâu có nhàn nhã gì. Vậy mà, ngần ấy con người với ngần ấy diện tích quản lý và khai thác, họ vẫn làm đâu vào đấy. Rừng mới cứ lần lượt lên xanh, còn rừng đến ngày khai thác cũng đáp ứng đủ các yêu cầu của gỗ thành phẩm, nhưng lại là nguyên liệu chính của các nhà máy giấy.
Tôi cũng đã gặp Nguyễn Thị Cưu– Đội trưởng đội 8, để biết thêm chuyện một gia đình mà cả nhà theo ngành lâm nghiệp, cả nhà cùng gắn bó với rừng, sống cùng rừng để đi lên từ rừng. Là nơi để cả chị lẫn anh được đem những kiến thức mà mình học được từ nhà trường, từ thực tiễn áp dụng vào công việc mỗi ngày. Với anh chị, có lẽ rừng luôn và mãi là tất cả tình yêu, sự cống hiến như những gì anh chị đã nhận lại từ rừng.
Chiều ấy, giám đốc Hoàng Quốc Chính, các phó giám đốc Khổng Ngọc Quân, Lê Anh Tuân đưa chúng tôi xuống thăm “cơ ngơi” của đội sản xuất số 7 tại khu vực Đèo Cón, thuộc xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn. Với những người trồng rừng mà anh em vẫn hay gọi là dân lâm nghiệp, những cái tên Đèo Cón, Đèo Mương, Suối Vền, Suối Nách, Suối Ú... luôn gắn với những kỷ niệm không thể quên của ngày xây dựng Lâm trường.
Người Thu Cúc (đất Thanh Sơn cũ), không ai có thể tin nổi rằng, những ngọn núi, quả đồi chỉ có cỏ gianh kia, trải bao nhiêu đời rồi, lúc xạm đen trong màu tro sót lại sau mỗi lần hỏa hoạn, lúc khô vàng giữa xào xạc heo may; lại có thể xanh lên màu xanh của rừng, rủ rỉ trong bản hồn ca của suối, thổn thức mà say đắm hơn trong rít rít tiếng chim.
Trần Hữu Phú– Đội trưởng đội 7, nơi chịu trách nhiệm trồng mới, chăm sóc, bảo vệ 200 ha rừng trồng/278,1 ha đất lâm nghiệp được giao, có dáng dấp như một thư sinh hơn một người trồng rừng đích thực.
Phú vốn là sinh viên Đại học Lâm nghệp. Tốt nghiệp, anh về nhận công tác ở đây đã 11 năm rồi. Mười một năm gắn bó với Đèo Cón, Thu Cúc, anh luôn coi nơi đây như mảnh đất quê mình. Vợ dạy mầm non ở Cự Thắng– Thanh Sơn. Lại thêm con nhỏ, biết chị sẽ vất vả hơn khi mình vẫn luôn phải xa nhà, Phú bảo: Em vẫn động viên nhà em, tuổi mình mới có hơn ba mươi mà được thế này là tốt lắm rồi. Mình không gắn bó với nghề, không làm việc hết trách nhiệm, làm sao có được sự tín nhiệm của anh em? Theo chân Phú và mấy anh em trong công ty, vượt trên những con đường mở tới mỗi cánh rừng, thì biết với không chỉ đội sản xuất số 7 này, mà cả Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn, với 1.700 ha rừng trồng làm nguyên liệu giấy ấy, đã có hơn 100 cây số đường được mở bằng quyết tâm và nỗ lực phi thường của nhiều thế hệ lãnh đạo, công nhân. Chính nhờ những con đường ấy, không chỉ người lao động của công ty, mà các đơn vị hữu quan cũng gặp nhiều thuận lợi hơn trong quá trình tổ chức sản xuất.
Không ngồi trên chiếc xe bán tải do Phan Ngọc Lâm điều khiển, tôi muốn cùng mấy anh em leo bộ một đoạn, chờ nhóm đi xe máy chở ba nhà văn vào trước, quay ra đón. Đứng trên triền dốc, phóng mắt về phía trước, tôi nhận ra màu xanh của những đồi keo cỡ đã 2 năm tuổi. Cái màu xanh non ấy như làm mềm đi khoảng trời trước mặt, khiến cho cả cơn gió vừa vuốt qua những chiếc lá keo kia như cũng mang đến cho ta cái cảm giác của sự trẻ trung, tươi mát. Tôi biết năm 2016, đội sản xuất số 2 của Phú đã trồng mới được 60 ha; còn năm nay, kế hoạch của các anh sẽ là 30 ha nữa.
Khi ba chiếc xe máy quay ra đón chúng tôi vừa chạm vào đỉnh dốc, tôi lên xe cùng Đỗ Đức Thọ (đội trưởng đội 3). Tranh thủ hỏi chuyện Thọ, tôi biết đội sản xuất của anh hiện quản lý hơn 100 ha rừng trồng, 47,5 ha chè và năm 2016 đạt sản lượng 1000 tấn/m3 gỗ thành phẩm, 25,3 ha rừng trồng mới. Anh bảo: “Công ty chúng em cũng đang từng bước thay đổi trong cách khoán sản phẩm. Em nghĩ, năm nay chắc chắn đời sống của tất cả cán bộ, công nhân, không chỉ của đội em, sẽ khá hơn đây”. Ngồi sau xe của Thọ, lúc len giữa những cánh rừng sắp đến ngày thu hoạch không chỉ san sát các thân keo đường kính cỡ 20 – 25 Cm lúc lại băng qua các chân đồi một bên là ruộng nương của bà con, một bên là những đồi keo mơn mởn trong chiều ngập gió; tôi nhận ra cái đầy đặn của một mùa sinh sôi như ngời lên trong màu đất bám trên mỗi bánh xe.
Trở về trụ sở làm việc của Đội– một căn nhà dựng chênh vênh trên sườn đồi, nhìn xuống quốc lộ 32B chạy từ Thu Cúc sang Phù Yên (Sơn La), tôi không tin nổi vì sao cho đến hôm nay, cái nơi làm việc của những người đã làm xanh thêm vùng đất rừng Đèo Cón, lại không thể có được cái ánh sáng của chiếc bóng đèn được thắp sáng bằng điện lưới? Hỏi ra mới biết, cái trạm này gần đất Sơn La mà lại xa đường điện Phú Thọ quản lý. Kéo một đường dây đơn lẻ lên đây, vừa tốn kém mà hiệu quả sử dụng lại không cao; còn bên Sơn La lại không cấp điện cho đơn vị thuộc đất Phú Thọ; thế thì, chịu khó chạy máy phát điện khi cần, còn không, cứ dùng đèn dầu cho tiện!
Tối ấy, trong bập bùng ánh lửa trại, cả một góc rừng Đèo Cón như ấm hơn, sôi động lên trong tiếng thơ, tiếng nhạc, điệu múa của các cô gái Thái, Mường, Mông là người Thu Cúc tụ về, người của Phù Yên sang chia vui. Mấy chục năm rồi, tôi mới được sống trong cái không khí hồn nhiên đến như thế. Người già, trẻ nhỏ, nam thanh nữ tú từ trong xã, từ các bản chung quanh nghe tin có đoàn nhà văn từ Hà Nội về thăm lâm trường, rồng rắn kéo nhau đến vây kín cả trụ sở đội. Xe máy xếp la liệt dọc hành lang quốc lộ.Tiếng nói, tiếng cười, những tràng vỗ tay, tiếng hò reo của vòng xòe, của những người đến chia vui cùng lâm trường, như một sự khẳng định những đóng góp không nhỏ của cán bộ, công nhân lâm trường Tam Sơn với mảnh đất Thu Cúc này.
Duyên dáng trong bộ váy áo dân tộc, cô gái Mường Bùi Thị Hà hồn nhiên kể chuyện với khách: “Cả xã chúng em vui lắm. Nghe tin có các bác nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ từ Hà Nội lên, ai cũng muốn đến với lâm trường để không chỉ được gặp đầy đủ các anh, các chị lãnh đạo đơn vị, mà còn được giao lưu văn nghệ nữa. Lâu lắm, lâm trường mới có cuộc vui thế đấy.
Còn vợ chồng anh Hạ A Páo và chị Sùng Thị Giắng (người Mông ở Sơn La) thì cứ say sưa hát một bài hát bằng tiếng Mông, rồi thoải mái mà cười bảo: “Vợ chồng mình vui quá. Cảm ơn các bác đã cho chúng mình về đây dự với mọi người”.
Đêm Đèo Cón, đêm Thu Cúc, Tân Sơn khép lại trong điệu sạp rộn ràng. Lửa vẫn sáng một góc rừng. Những bàn chân nhịp bước theo tiếng vỗ sạp, bàn tay nắm lấy bàn tay như nói hộ những gì người Thu Cúc, người Phù Yên dành cho những cán bộ, công nhân Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn hôm qua và hôm nay.

                                img_8464


Bền Vững – Tam Thắng
Nhưng, về với Phú Thọ, về với những cán bộ, công nhân của Tổng công ty Giấy Việt Nam, nếu ta chưa về với Công ty Lâm nghiệp Tam Thắng, nơi những cán bộ, công nhân ở đây được coi là những người làm lâm nghiệp bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế, âu sẽ là điều đáng tiếc.
Tôi không hiểu lắm về khái niệm  rừng bền vững nên nghe anh Phạm Hồng Thắng– Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Tam Thắng nói rằng, đơn vị anh đã được các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực này cấp chứng chỉ rừng bền vững, tôi cũng hình dung ra chắc các anh phải phấn đấu kiên trì và gian khổ lắm.
Những tiêu chí của lâm nghiệp bền vững là: Rừng phải luôn được tái tạo, hành lang ven suối phải được bảo vệ nghiêm; đường vào rừng không bị xói lở, rừng phải luôn mướt mát màu xanh, không được sử dụng lao động là trẻ em, trong rừng không có túi ni-lông... Những tiêu chí nghe có vẻ bình thường nhưng làm đủ và duy trì có hiệu quả xem ra cũng là điều không dễ.
Công ty Lâm nghiệp Tam Thắng được giao quản lý 3.100 ha đất lâm nghiệp, trong đó có 1.700 ha rừng trồng với 9 đội sản xuất cùng tổng cộng 70 cán bộ, công nhân viên, nhưng Tam Thắng đang là điểm sáng trong mô hình làm nông nghiệp bền vững.
Tôi gặp Phan Anh Tuấn, đội trưởng đội sản xuất số 5, đơn vị có tới 270 ha rừng trồng và mới đây còn được giao quản lý thêm 130 ha nữa, anh cho biết: “Thật ra, giữ rừng cũng chính là giữ cho cuộc sống của người lao động không chỉ ổn định, mà còn từng bước đi lên. Bởi, nếu với mét khối (1 tấn) gỗ thành phẩm bình thường chỉ được mua theo giá quy định, thì của đơn vị có chứng chỉ này, chúng em được trả thêm từ 50 -100 ngàn đồng đấy.
Ngay cả trong câu chuyện với phó giám đốc Ngô Xuân Quyến, tôi cũng nhận được cái phấn chấn khó giấu khi anh bảo chúng em chưa biết hết được lợi ích của việc làm lâm nghiệp bền vững theo tiêu chí quốc tế đâu. Thực ra, anh Thắng giám đốc là người hiểu biết, nên khi anh ấy trao đổi, bàn bạc rồi nêu quyết tâm phải làm cho được, anh em ai cũng thấy, làm như anh ấy mới là yêu rừng, sống chết vì rừng thật”. Tôi đã đến khu quản lý của đội sản xuất số 4, nơi mà anh chiến sĩ biên phòng ngày nào– Nguyễn Công Vạn, làm đội trưởng để “mục sở thị” cái chuyện sống chết với rừng như anh Quyến đã nói.
Vạn là người Mường ở Xóm Chòi, xã Cự Thắng, đất Thanh Sơn này. Vợ anh, cô gái có tên Trương Thị Mơ, vốn là dân lâm trường, mà cha mẹ cô (quê ở Lý Nhân– Hà Nam) tản cư lên đây từ những ngày kháng chiến chống Pháp, rồi sinh cô cũng ở mảnh đất Thác Chòi này. Lấy chồng lúc mới 18 tuổi, vợ chồng Vạn Mơ đã cắm sổ ở mảnh đất này mấy chục năm, để cùng sống với rừng, với núi, với Thác Chòi cho đến hôm nay.
Hôm vào thăm vợ chồng anh, Vạn mới nghỉ chế độ vừa bàn giao lại công việc cho Nguyễn Văn Diệp, nên anh không nói gì về đội 1, về 150 ha rừng trồng mới anh đã đóng góp suốt hơn hai chục năm qua.
Con đường dẫn vào ngôi nhà vợ chồng anh ở, ngay gần chân Thác Chòi, giờ được người dân gọi là thác Vạn Mơ hay thác Mơ, cũng đang được mở rộng; chắc là để một doanh nghiệp nào đấy vào khai thác cái thác 9 tầng mà vợ chồng anh mấy chục năm qua đã nhặt từng viên sỏi xếp sắp, xây sửa thành đường đi, thành chỗ nghỉ chân cho những ai một lần về với Cự Thắng.
Ngay cả những đồi ruộng quanh nhà anh chị, tôi cứ nhìn qua lớp lớp cây ken dày vào nhau, tôi tin nếu không có bàn tay bảo vệ của anh chị, chắc giờ trơ trụi hết rồi? Quả nhiên, cái điều tôi nghĩ ấy được chính Mơ kể lại trong một câu chuyện rất thật thế này: Ngày trước ở khu xóm Minh Khai có một người đàn ông tên là Lưu Ban, ông có nghề đan chõ xôi cơm, nên cứ thỉnh thoảng ông lại lẻn vào rừng chặt trộm những thứ cây ông cần. Biết chuyện, Mơ đã đến tận nhà ông và bảo “Ông ơi! Nếu ông cần làm nhà, con sẽ làm cho ông đủ một nếp nhà. Ông cho người theo con vào rừng, con sẽ cho chặt đủ cả loại cây để làm nhà cho ông”. Nghe cô nói thế, ông lão biết mình đã làm điều không phải, nên từ đó ông bỏ chuyện vào rừng chặt cây như trước”.
Còn Mơ và chồng mình không chỉ biết trồng rừng cho đơn vị, anh chị còn biết giữ cho mảnh đất này luôn sum xuê màu xanh cây lá. Dòng suối Khoang Tải chảy vắt ngang trước căn nhà của anh chị, nơi phía sau lưng nhà là cái thác với chín tầng, mỗi tầng cả vài chục mét, không chỉ ầm ào tiếng nước đổ, mà nếu lắng lại tai nghe được rõ cả tiếng chuyển cành của lũ chim rừng, hay vô tình có thể bắt gặp đôi sóc nhỏ đang đùa giỡn cùng bóng nắng.
Đứng dưới chân Thác Chòi (hay thác Vạn Mơ), tầng thác dưới cùng được gọi là Thác Tải Cái, rồi đến Lọ Biếng (như một cái xôi cơm). Đường leo thác khá dốc và chỉ dành cho những ai có đủ sức khỏe, đủ can đảm, bởi nếu lên tới được tầng 5 (thác thứ 5), còn được gọi là thác Chõ Chụm, thì theo Vạn, cũng mất cả tiếng rồi.
Thác 9 là nơi mà người Mường ở đây coi là chỗ ngự của Bà Chúa Loọp, hay còn gọi là Bạch tinh thần nữ, nên nếu ai lên được đến đây, bà cũng rộng lòng ban cho thêm nhiều điều thật tốt lành.
Đoàn không có ai đủ sức leo lên thác Lọ Biếng, chúng tôi đứng dưới chân thác Tải Cái, ngắm dòng nước trong vắt đang đổ từ trên cao xuống, lại ngắm từ nhánh cỏ, cành cây xòa bóng che mát cả một không gian khá rộng của lòng suối Hãn, tôi hiểu những người cán bộ lâm nghiệp như giám đốc Thắng, vợ chồng anh chị Vạn–Mơ đã sống và gắn bó với rừng thế nào.
Chia tay Phạm Hồng Thắng cùng các cán bộ, công nhân Công ty Lâm nghiệp Tam Thắng, câu chuyện làm lâm nghiệp bền vững và những gì tôi đã chứng kiến cứ theo tôi suốt dọc đường về. Vâng, nếu đất nước này có thêm nhiều lâm trường như Tam Thắng, có nhiều thêm những người biết làm lâm nghiệp như anh Thắng, biết sống chết cùng rừng như anh chị Vạn–Mơ, tôi tin không có mảnh đất cằn khô nào không thể nảy lên những mầm xanh của sự sống, của hy vọng và tương lai.
                                                                                                  Phú Thọ, 15/02/2017
                                                                                                   Hà Nội, 28/02/2017
                                                                                                                N.L   

 

Gửi ý kiến phản hồi

Họ tên
Điện thoại & email
Nội dung
 
 
 
  Bài viết mới
  Hoạt động đó đây
  Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ trực tuyến 2
Tư vấn tạo web
Hỗ trợ trực tuyến 1
Tư vấn tạo web

Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Phú Thọ

Số 1518 Đại lộ Hùng Vương phường Gia Cẩm thành phố Việt Trì Phú Thọ

Trưởng ban nội dung: Lương Văn Thắng. Phó ban Thường trực: Phùng Văn Vinh.
 Chủ nhiêm Website: nhà văn Nguyễn Đức Sơn
Điện thoại : 02103 818 567 -  Email : soncam52@gmail.com
Bản quyền thuộc Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Phú Thọ