Tin tức
  Thống kê truy cập
Đang truy cập
Lượt truy cập
  BÀN VỀ THỜI GIAN 時間論

 Phạm Thức
                                                                                         
                                                    "Thời gian là một ngọn lửa thiêu đốt ta.
                                                    Nhưng chính ta là ngọn lửa thiêu đốt đó"
                                                                                            Jorge Luis Borges
 
          Từ lâu chúng ta vẫn bị ám ảnh bởi vấn đề thời gian. Nhưng gần đây, khi bắt đầu thấy tuổi già bóng xế, ta bỗng cảm thấy vấn đề trở thành gay go và cấp bách. Mình không còn lại bao nhiêu thời gian nữa, và tự nhủ, cho nên phải cố gắng tận dụng tất cả thời gian còn lại. Để làm gì? Để suy nghĩ về một số vấn đề hệ trọng, bắt đầu bằng vấn đề thời gian.

       
  Bởi vì nếu hiểu được thời gian, thì biết đâu đó chẳng phải là một chìa khóa mở rộng ra bao nhiêu cánh cửa, bao nhiêu con đường, bao nhiêu chân trời mới? Và nếu giải đáp được bài toán trong những bài toán, vén được màn bí mật trong những bí mật của cuộc đời, thì biết đâu chẳng có hy vọng tự đưa mình... thoát khỏi thời gian?
Vẫn biết đó là một điều không tưởng, một hành trình mạo hiểm mà trên đó đã bao nhiêu người vấp ngã và đắm chìm.
         Một người bạn đã nhìn tôi ái ngại: "Ông mà suy nghĩ về thời gian thì có ngày phát điên mất. Tôi bắt đầu lo cho ông..."Tôi cảm ơn ông bạn, nhưng cũng thầm nghĩ: Cần gì phải lo? Cùng lắm thì phát điên, nhưng điên vì một lý do vô cùng chính đáng, một vấn đề đã từng ám ảnh bao nhiêu thế hệ thi sĩ, triết gia và các nhà khoa học, một vấn đề mấu chốt nằm giữa lòng cuộc sống. Còn nếu hiểu được rõ hơn thời gian, thì biết đâu mình sẽ làm chủ được phần nào thời gian, hay ít ra làm bạn được với thời gian còn lại trong mình?...
         1- THỜI GIAN LÀ GÌ?
         Vậy thời gian là gì? Làm thế nào hiểu được thời gian? Có thể nào hiểu được thời gian? Bởi vì còn gì dễ cảm thấy hơn thời gian, nhưng cũng còn gì khó hiểu hơn thời gian! Thời gian có mặt ở khắp nơi, nhưng cũng không tìm thấy ở nơi nào. Trong mỗi tia nắng, trong mỗi tiếng chim, trong từng ngọn cỏ, đều có thời gian. Trong mọi niềm vui, trong từng nỗi nhớ, trong mỗi ước mơ, đều có thời gian. Thời gian vừa ở bên ngoài, vừa ở trong lòng ý thức.

         Có thể nói rằng đâu đâu cũng có mặt thời gian, cũng như đâu đâu cũng có mặt không gian. Nhưng thời gian mới thực là vô cùng bí hiểm. Bởi vì không gian nằm sờ sờ ra đấy, chỉ cần mở mắt ra là nhìn thấy, giơ tay ra là nắm bắt được, tha hồ tác động vào. Nhưng còn thời gian? Tìm thời gian ở đâu, dù đập tan bình cát đo thời gian hay tháo hết những đinh ốc đồng hồ, cũng không thể nào tìm thấy thời gian trong đó. Thời gian bàng bạc khắp nơi, nhưng cũng không trú ngụ nơi nào.    
          Mỗi giây phút trôi qua là thời gian. Trong khi tôi viết hay đọc những dòng này,
thời gian đã đi qua. Có thời gian thì mới có di chuyển, có động tác, nhưng ngay cả im lìm, bất động cũng cần có thời gian. Phải có thời gian mới có hiện hữu.
         Người ta vẫn quen nhìn thời gian như một định luật đưa tới già nua, tàn tạ, hủy diệt, nhưng không mấy ai nghĩ rằng chính nhờ có thời gian nên mới có tác động, hiện hữu, nẩy sinh. Nếu không có thời gian, thì sẽ không bao giờ có sự sống. Không có sự hình thành của trái đất, hơn mười tỷ năm sau tiếng Big Bang, không có sự kết hợp của các phân tử thành các cơ thể đơn bào, rồi đa bào, không có sự xuất hiện của các loài cỏ cây, cầm thú, không có sự tiến hóa liên tục cho tới loài người, với bộ óc tinh vi, sáng tạo. Đó là những thành quả của sự tiến hóa không ngừng của vạn vật, tức là những thành quả của thời gian.
         Và chỉ cần có một sự đổi thay vô cùng nhỏ bé trong định luật thời gian, cũng đủ đưa tới muôn ngàn đảo lộn trong cuộc sống hàng ngày: Mọi sự vật ngừng trệ, xe cộ đâm nhau, tiếng nói lắp bắp, tim đập loạn xạ, hình ảnh nháo nhào, tư tưởng lộn xộn, v.v....Không thể nào tưởng tượng nổi không có một định luật bất di bất dịch của thời gian. Phải chăng đặc điểm của thời gian chính là điều đó, vừa biến động, vừa bất biến, biến động trong hiện tượng, nhưng bất biến trong nguyên lai?

        Nếu tôn vinh một đấng Thần linh Tối thượng, thì tôi nghĩ không phải là thần Sấm, thần Chớp, thần Mưa, thần Sinh nởv.v...mà là thần Thời gian, bởi vì chỉ có thời gian mới bao trùm và chế ngự tất cả. Thay vì chúng ta than vãn, ca cẩm thời gian mỗi ngày đục phá, gậm nhấm cuộc đời, thì có lẽ chúng ta nên ca tụng Thời gian chính là đấng Tạo hóa, là tác giả tối hậu của mọi hiện hữu trong thế giới này. Có thời gian là có tất cả. Nếu có thời gian, ta có thể làm được mọi thứ, kể cả trở thành bất tử !

        Thật ra, thời gian không phải là một, mà là hai: Đó vừa là một định luật tự nhiên, khách quan, bao trùm thế giới; vừa là một khái niệm chủ quan của con người tự thân. Bởi vì chỉ có con người mới có ý thức về thời gian. Con người là sinh vật duy nhất biết rằng mình sẽ chết, và biết rằng thời gian liên tục trôi qua. Nhưng cái khổ của con người cũng nằm trong ý thức về thời gian đó, hay đúng hơn trong ý thức về khoảng cách giữa hai loại thời gian. Thời gian vật lý thì vô tình, giá lạnh, đi trên một con đường thẳng tắp, đều đặn như một cái máy tuyệt hảo bởi vì không bao giờ hư!, tạo tác và phá hủy mọi sinh vật, mọi hiện hữu. Trong khi đó thời gian tâm lý lại hữu tình, nóng bỏng, quay theo một hình tròn, lúc nhanh lúc chậm, với bao nhiêu kỷ niệm nhớ thương về dĩ vãng, cũng như bao nhiêu dự trù lo lắng cho tương lai. Chúng ta hãy lắng nghe tiếng vang của thời gian trong tâm hồn người thi sĩ.
        2- THỜI GIAN ĐỐI VỚI NHÀ THƠ
        Chúng ta thử tự hỏi, nếu không có thời gian, thì liệu còn có bao nhiêu vần thơ và bao nhiêu nhà thơ? Nói một cách khác, giả sử các nhà thơ quên đi mọi kỷ niệm, thì liệu còn có lý do gì để làm thơ? Tôi chắc rằng lúc bấy giờ chỉ còn lại một loại thơ, đó là thơ Thiền. Bởi vì chỉ có nhà thơ Thiền mới làm thơ về hiện tại, còn đa số các nhà thơ đều sống về dĩ vãng, về kỷ niệm, về tuổi thơ, với bao nhiêu nhớ nhung, tiếc nuối.
         Là thi sĩ, không phải là Say với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây, như lời của Xuân Diệu. Là thi sĩ, chính là mang trong tiềm thức một bồ kỷ niệm, và một bầu cảm xúc đi đôi với những kỷ niệm đó. Và lời thơ, chính là nguồn cảm xúc dâng trào, quyện vào với kỷ niệm, dội lên thành thơ. Để ý kỹ, chúng ta sẽ thấy đa số những từ ngữ, khái niệm, hình ảnh trong các bài thơ đều liên quan tới dĩ vãng như: "nhớ nhà... quên lãng... kỷ niệm... xa xưa... cố hương...con đường xưa...con sông xưa...   bến cũ...vầng trăng xưa...dấu chân cũ...lần cuối...này ấy...dở dang...lỗi hẹn...con tàu năm xưa... biệt ly...vấn vương...bụi thời gian...thuở nào...xa vắng...nhớ nhung...nắng cũ...mòn mỏi.. phai màu...ước hẹn...hao mòn...ngừng trôi...chia phôi...hoài cảm...cố hương...ấu thơ v.v..."
        Chẳng hạn như bài văn đầy âm điệu sau đây của Đinh Hùng (1920-1967) là nhà thơ tiền chiến, sinh ở Hà Đông, mất ở Sài Gòn, cũng mang bao nhiêu hình ảnh của quá khứ, của thời gian: "Thu năm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này, nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ. Những cây liễu xanh đứng buồn như những nàng cung nữ đời xưa, và trong vườn nhà ai thấp thoáng hoa phù dung buổi sáng nở trắng như một tâm hồn còn trong trẽo. Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa, và linh hồn tôi vẫn là linh hồn năm trước. Đường này hiu hắt, tôi đem lòng về để gặp mùa thu thương nhớ cũ, và may cũng thấy thu về để nước hồ xanh. Chân ai đi xa vắng đằng kia hay đó chỉ là gió thoảng mong manh, và gió nào vương vấn hồn tôi hay đó chỉ là dư thanh của một ngày xưa cũ?"
        Thời gian trong Chinh Phụ Ngâm là thời gia nghệ thuật ẩn trong bốn mùa, trong cây cỏ hoa lá và chim muông:
                Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu (xuân)
                Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca (hè)
                Nay quyên đã giục oanh già (sang hè)
                Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo (thu)
                Thuở đãng đồ mai chưa dạn gió (đông)
                Hỏi ngày về chỉ độ đào bông (xuân)
                Nay đào đã quyến gió đông (đầu xuân)
                Phù dung lại nơr bên sông bơ xờ (thu)
          Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du biểu thị thời gian qua con én và  ánh sáng mặt trời, mùa xuân có 90 ngày mà đã ngoài 60 tức là đã sang tháng 3 rồi:
            Ngày xuân con én đưa thoi
            Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Hoặc mùa hè sắp qua, mùa thu mới đến:
           Buồn trông phong cảnh quê người,
           Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa .
                                                Tất cả rồi cũng sẽ trở thành tro tàn, cát bụi. Tác phẩm nào tuyệt tác đến đâu chăng nữa cũng sẽ bị thời gian phá hủy, ngoại trừ... Ngoại trừ tấm gương hy sinh cao cả của các đấng Bồ Tát, bởi vì được truyền tụng từ thế hệ này qua thế hệ khác, nên đã vượt khỏi thời gian.
         Nếu không phải là nhớ thương, thì nhà thơ cũng mang nặng trong mình một mối sầu vạn cổ, cũng như TrầnTử Ngang (661-702), nhà thơ thời Sơ Đường đã không ngăn được xúc động khi ngẫm tới thời gian, tới không gian vô tận, bên cạnh kiếp người ngắn ngủi, nhỏ bé vô cùng:
                   Tiền bất kiến cổ nhân,
                   Hậu bất tri lai giả.
                   Niệm thiên địa chi du du,
                   Độc thương nhiên nhi thế hạ.
Nghĩa là:
                  Hào kiệt xưa đã qua?
                  Anh hùng nay chưa tới?
                  Ngẫm trời đất không cùng.
                  Riêng mình ta lệ rơi.
         Và thời gian đối với Lý Bạch (701-762), thi hào nổi tiếng thời Nhà Đường (618-907) cũng như giòng nước lạnh lùng trôi qua, không làm sao ngăn chận được, cũng như nỗi buồn của số phận làm người không thể nào làm tan đi trong men rượu:
                 Trừu đao đoạn thủy, thủy cánh lưu.
                 Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu.
Nghĩa là:
                 Rút gươm chém nước, nước càng chảy,
                 Nâng chén tiêu sầu, càng sầu thêm.

Trong bài thơ Tương Tiến Tửu, Lý Bạch nói về thời gian đi qua đời người quá nhanh:
                Quân bất kiến,
                Cao đường minh kính bi bạch phát,
                Triều như thanh ti mộ thành tuyết...
Nghĩa là:
                Bác chẳng thấy,
                Đài cao soi gương buồn tóc bạc,
                Sáng xanh tơ mà tối đã như sương... 
          Cũng như trong những vần thơ của Apollinaire (1880-1918), nhà thơ Pháp, vẫn còn phảng phất hương vị của thời gian, của một mùa thu thương nhớ:
                Anh đã hái cành hoa thạch thảo,
                Mùa thu đã chết em nhớ chăng.
                Thế giới này đôi ta vĩnh biệt,
                Còn lại thời gian hoa thạch thảo,
                Em ơi hãy nhớ, anh chờ em.
                        Sinh ra, già đi, chết đi ... Con người như một chiếc thuyền mỏng manh, lênh đênh trên biển cả, không biết trôi dạt nơi đâu, mà cũng không thả neo được giờ phút nào, cũng như lời năn nỉ của Lamartine (nhà thơ Pháp TK 19) khi muốn níu kéo lại những khoảnh khắc êm đẹp nhất của cuộc đời:
                 Thuyền vô định lênh đênh trôi mãi
                 Trên biển đời trong suốt đêm thâu
                 Biết chăng trong kiếp sống này
                 Bao giờ mới được có ngày thả neo?
                Thời gian hỡi, ngừng ngay cánh lại!
                Giờ phút êm, xin hãy ngừng trôi.
                Hãy cho ta hưởng một thôi,
                Những ngày tươi đẹp nhất đời của ta!
          Ôi, nhà thơ mới ngây thơ làm sao, bởi vì chỉ cần hỏi lại câu: "Muốn thời gian ngừng lại trong bao nhiêu lâu?" là đã thấy mình vô lý đến sượng sùng! Nếu thời gian ngừng lại, thì không có thời gian. Mà nếu không có thời gian, thì làm gì có ai mà tận hưởng, có cái gì mà tận hưởng? Chỉ còn cách xin thời gian trôi qua, nhưng riêng ta thì vẫn như vậy, không chút đổi thay.
        Nói tóm lại, thời gian đối với nhà thơ là một điều chủ quan tới tột độ, vừa là một mối sầu vạn cổ, một nỗi nhớ thương man mác, và một niềm đau ray rứt đê mê. Đó không phải là một cái gì trừu tượng mà là một sự thực sống động, không ngừng vang dội trong chiều sâu tâm thức. Nhà thơ biết mình không tránh khỏi thời gian, chịu đau cái nỗi đau thời gian, nhưng không thể nào từ bỏ được nó. Bởi vì nỗi đau thời gian đó chính là mình, nó đã trở thành mình...
        3- THỜI GIAN ĐỐI VỚI NHÀ TRIẾT HỌC
        Thời gian không phải chỉ là một nỗi đau, mà còn là một câu hỏi không ngừng dằn vặt con người, qua bao nhiêu thế hệ. Nó bắt nguồn từ chiều sâu tâm thức của mỗi người, như một ngọn lửa âm ỉ nhưng cũng có thể bùng cháy lên bất cứ lúc nào, thúc đẩy bởi một sự bức thiết nội tâm. Cũng như trước cái chết,sự sống, con người không thể nào thoát ra khỏi sự ám ảnh của thời gian...

        Từ cổ xưa, người ta đã ý thức về thời gian qua những quan sát về sự đổi thay trên thế giới. Đối với người Trung Hoa, mọi sự vật đều biến chuyển theo những định luật tự nhiên, tức là luật biến hóa của vũ trụ, được Khổng Tử (551-479 TCN) chép lại trong Kinh Dịch biểu thị sự biến chuyển qua thời gian từ Thái Cực sinh ra Lưỡng Nghi, Lưỡng nghi sinh ra Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát Quái...cho tới 64 Quái, với Ngũ Hành tương sinh tương khắc, sinh ra vạn vật. Lão Tử (571-471 TCN) trong Đạo Đức Kinh, cũng vạch rõ những biến chuyển tự nhiên của vũ trụ, nhưng khuyến cáo con người không nên cưỡng lại mà nên thuận theo với những biến đổi tự nhiên mà sống.

        Ảnh hưởng của Đạo LãoPhật giáo đã mang lại cho nền văn minh Trung Hoa một lối nhìn siêu thoát về thời gian, cũng như trong bài Phú Tiền Xích Bích của Tô Thức (1037-1101): "...Bác có biết nước và trăng không? Nước chảy thế kia mà chưa từng đi bao giờ, mặt trăng khi tròn khi khuyết như vậy mà chưa từng thêm bớt bao giờ. Bởi vì ta đứng ở nơi biến đổi mà quan sát, thì toàn bộ sự biến đổi của trời đất cũng chỉ ở trong một cái chớp mắt; mà nếu ta đứng nơi không biến đổi mà xem, thì muôn vật cùng với ta đều không bao giờ thay đổi cả..."

        Tại Tây phương, triết lý ngay từ ban đầu đã luôn luôn dao động giữa hai khuynh hướng của tư tưởng cổ xưa Hy Lạp:
        Đối với Héraclite, đặc tính của cuộc sống là sự lưu chuyển không ngừng của sự vật: "Người ta không bao giờ tắm hai lần ở một giòng sông". Điều đó nằm trong định luật chung của vũ trụ gọi là logos, bao trùm và tác động trên tất cả mọi hiện tượng trên thế gian. Tất cả luôn luôn biến đổi, cái này đưa tới cái kia, vừa chống đối nhau vừa nẩy sinh ra nhau, như âm dương: sáng / tối, nóng / lạnh, ngày / đêm..
        Ngược lại, Parménide cho rằng sự hiện diện là vĩnh cửu, và tất cả đổi thay chỉ là những vẻ bên ngoài. Cũng trong chiều hướng này, Platon chủ trương bên cạnh thế giới hiện tượng đổi thay, còn có thế giới của Tư tưởng, của Linh hồn, một thế giới vĩnh cửu bất biến, vượt khỏi thời gian. Thời gian đương nhiên trở thành "hình ảnh chuyển động của sự vĩnh cửu bất động".
        Đối với Aristote (384-322 TCN), nhà triết học và bác học cổ đại của Hy Lạp, thời gian cũng như sự chuyển động mang một tính chất vĩnh cửu, vô thủy vô chung. "Thời gian là thước đo của sự chuyển động giữa trước và sau; thời gian liên tục, bởi vì thuộc vào sự liên tục. Chỉ có thời gian hiện tại mới là thời gian thực sự."

        Nhưng thời gian có quá khứ và tương lai, làm sao chúng có mặt được, nếu quá khứ không còn nữa và tương lai chưa tới? Ngay cả hiện tại, nếu luôn luôn còn đó, không mất đi trong quá khứ, nó sẽ không phải là thời gian; nó sẽ là vĩnh cửu. Vậy, nếu hiện tại muốn là thời gian, phải mất đi trong quá khứ, thì làm sao chúng ta có thể khẳng định rằng nó cũng có mặt, khi mà lý do duy nhất của sự có mặt này chính là sự không còn nữa? Thành thử. thực ra nếu chúng ta có thể nói rằng "thời gian có mặt", thì chính là bởi vì nó đi vào "thời gian không có mặt".
        Đó chính là nghịch lý của thời gian: quá khứ không còn bởi vì đã qua rồi, tương lai không có bởi vì chưa tới, chỉ có hiện tại là có thật, nhưng hiện tại phải biến mất ngay mới là hiện tại, bởi vì chỉ cần kéo dài một chút đã trở thành quá khứ ...

        Đối với Hegel (1770-1831), nhà triết học Đức, thời gian có ba kích thước:  Một là quá khứ, là sự hiện hữu như bị xóa bỏ, như "không có mặt"; Hai là tương lai, là sự "không có mặt", nhưng tất định sẽ có; Ba là hiện tại, là sự trở thành lập tức, và sự kết hợp của hai cái trên. "Chỉ có thời gian khi có lịch sử,  tức là có sự hiện hữu của con người... Con người ở trong thời gian, và thời gian không có ngoài con người; do đó con người chính là thời gian và thời gian chính là con người".

        Nhưng bám sát chiều hướng lịch sử một cách quá đáng cũng có hại cho cuộc sống, theo Nietzsche (1844-1900) nhà triết học Phổ: "Con vật sống một cuộc đời không có lịch sử... Ngược lại, con người vì tự mình gánh một gánh nặng lịch sử, mỗi ngày một một nặng thêm của quá khứ, nên bị nó đè lên mình và đẩy chệch hướng đi, làm chậm bước vì một gánh nặng vô hình của bóng tối".

        Thời gian cũng có thể bao gồm tất cả. Đó là quan điểm của Bergson (1859-1941), nhà triết học, nhà văn Pháp, người đã xây dựng nên một triết lý hoàn toàn dựa lên thời gian: "Đó không phải là thời gian của khoa học, của vật lý, của máy móc, của đồng hồ; không phải thời gian được đo tính, phân tích, mổ xẻ, chuyển đổi thành không gian. Mà là thời gian được con người sống và cảm nhận. Thời gian thực sự là thời gian của chiều sâu tâm hồn, một khoảng thời gian có bề dầy, co giãn linh động, mang tới những cảm giác mạnh mẽ, có chất lượng và không thể thay bằng số lượng. Đó là một dữ kiện trực tiếp của ý thức vượt khỏi ngôn từ, lý luận, và chỉ có thể cảm nhận bằng trực giác. Đối với Bergson, 'Thời gian là sáng tạo, hoặc không là gì hết'."
        Jules Lagneau (1851-1894), nhà triết học Pháp cho rằng: Không gian và thời gian không thể tách rời nhau được. Không gian và thời gian là sự chuyển động được trừu tượng hóa. Nhưng nếu không gian và thời gian đều là bằng chứng của sự tùy thuộc của ta vào sự vật, thì cũng có những sự khác biệt giữa hai khái niệm này: Không gian là dấu hiệu của quyền lực của ta. Thời gian là dấu hiệu của sự bất lực của ta. Bởi vì, ta cảm nhận được không gian, tức là biết mình đang ở đâu, và sẽ tới đâu lát nữa, nếu muốn. Trong khi đó, nếu mình muốn tới ngày mai, thì chỉ có một cách là chờ đợi. Vì vậy cho nên không có sự cảm nhận về thời gian.

        Như vậy, quan niệm của triết học về thời gian mỗi ngày một thêm phức tạp, và có lẽ đã đi tới một ngõ cụt không thể nào tiến xa hơn được. Triết học ngày nay quanh đi quẩn lại, nghĩ tới nghĩ lui, rồi rốt cuộc cũng như thể "con rắn tự cắn đuôi mình", hay "con kiến mà leo cành đào"...trong câu ca dao nọ.

        Không tìm thấy giải đáp nơi triết học, con người hiện đại thường quay về phía khoa học, với hy vọng vén được màn bí mật về thời gian, nhờ những khám phá mới nhất của vật lý và sinh học
        4- THỜI GIAN VỚI NHÀ KHOA HỌC
        - Đo tính thời gian:

        Từ lâu, người ta đã tìm cánh đo tính thời gian, là một yếu tố quan trọng trong sự giao tiếp giữa những con người. Nếu không đo tính được thời gian, thì làm gì có hẹn hò, có gặp gỡ, có nên vợ nên chồng, sinh con đẻ cái. Làm gì có những sinh hoạt xã hội, như mua bán, hội hè, thi cử, thể thao, ca nhạc và ngay cả luộc một quả trứng gà cũng không xong!
        Ngay từ cổ xưa, con người đã biết dùng những phương tiện giản dị, gần thiên nhiên để đo tính thời gian: bằng bóng mặt trời xoay quanh nhật bàn, những giọt nước chảy tí tách trong lậu hồ, hay những hạt cát trôi dần trong bình cát. Thuở ấy, thời gian được đo tính một cách mơ hồ, nhưng đầy thơ mộng. Đến khi đồng hồ xuất hiện tại Âu châu vào thời kỳ Phục Hưng, thì thời gian bắt đầu trở nên máy móc và khô khan. Lúc đầu còn nghe tiếng tích tắc của đồng hồ quả lắc, tiếng chuông đánh boong boong, tiếng chim kêu cú cu. Nhưng chẳng bao lâu đồng hồ đã im tiếng, đã mất cả những chiếc kim lân tinh, những chiếc rubis quí giá, và chỉ còn là một bản số điện tử trống rỗng, không hồn.

        Nhờ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đo tính thời gian đã trở thành mỗi ngày một thêm chính xác. Với đồng hồ cơ khí và đồng hồ tự động, người ta có thể nhanh chậm một vài giây trên một ngày, trong khi đó đồng hồ quartz chỉ còn sai một vài giây trên một tháng, và đồng hồ nguyên tử một giây trên một triệu năm! Thời kế tự động, rồi thời kế quartz đã cho phép đo được những khoảng cách vô cùng ngắn ngủi, cho tới một phần triệu giây. Và bắt đầu từ năm 1967, một giây được định nghĩa như "thời hạn của 9.192.631.770 chu kỳ sóng từ điện được phát hoặc hấp thụ bởi một nguyên tử césium 133 khi chuyển từ một mức độ năng lượng này tới một mức độ khác"! Và từ năm 1983, một mét được định nghĩa như "chiều dài của con đường mà ánh sáng đi qua khoảng trống trong thời gian 1/299.792.458 giây" !

        Còn gì chính xác hơn là định nghĩa khoa học, nhưng đo được thời gian, dù chính xác tới đâu chăng nữa, vẫn chưa phải là hiểu được thời gian...
        - Liên hệ giữa không gian và thời gian:

        Thực ra, phải đợi đến Galilei (1564-1642) là nhà bác học Ý, thì con người mới
bắt đầu đi vào khoa học, nhờ sự khám phá những định luật nối liền sự chuyển động với thời gian. Galilei đã khai phá cho con người con đường tìm hiểu thiên nhiên, qua những áp dụng toán học vào vật lý học.
        Với định luật "vạn vật hấp dẫn", Newton (1643-1727) nhà bác học Anh, mở ra cho khoa học một kỷ nguyên mới, mỗi chuyển động trong không gian đều phải tuân theo định luật một cách chính xác, từ một quả táo tới một ngôi sao. Newton dựa lên giả thuyết: Có một không gian độc nhất, cùng tính chất khắp nơi và một thời gian tuyệt đối, độc nhất. Thế giới của Newton như vậy có bốn chiều: Ba chiều để tả không gian và một chiều là thời gian. Đặc điểm của chiều thời gian là: Người ta không thể nào di chuyển được trong đó và cũng như không gian, không thể nào suy tư được trên đó, bởi vì cả hai là những định nghĩa tiên nghiệm làm nền tảng cho vật lý học.

        Einstein (1879-1955) nhà bác học Đức, không đặt vấn đề thời gian như một điều tiên nghiệm, nhưng lưu ý tới khoảng thời gian đo giữa hai sự kiện, bởi những quan sát viên ở những hệ quy chiếu khác nhau. Ông cho thấy rằng những khoảng thời gian đó khác nhau. Thời gian như vậy tùy thuộc vào hệ quy chiếu được chọn, và không còn được coi là tuyệt đối.

        Người ta thường lấy câu chuyện hai anh em sinh đôi của Langevin (1826-1906), nhà vật lý, nhà văn Canada, để minh họa tính chất tương đối của thời gian: Một trong hai người phiêu du trong không gian trên một phi thuyền với một tốc độ gần tốc độ ánh sáng; Còn người kia ở lại trái đất. Thời gian đối với người đi nhanh sẽ chậm hơn người ở lại tại chỗ, và sau một thời gian, người đi xa trở về sẽ trẻ hơn người ở lại. Như vậy, đó là lời giải thích một cách khoa học cho câu chuyện Từ Thức gặp nàng tiên Giáng Hương, hay Lưu Nguyễn lạc Đào Nguyên, khi trở về hạ giới, chỉ còn gặp những cháu chắt của mình! Hay như chuyện Từ Thức gặp Tiên ở ta.

        Trong thuyết tương đối hẹp của Einstein, thời gian gắn liền với hệ quy chiếu, nhưng còn thuộc vào hệ thống bốn chiều, cùng với không gian, để miêu tả sự chuyển động. Trong một hệ quy chiếu nào đó, thời gian và không gian cùng đóng một vai trò, đó là thời gian và không gian tuyệt đối của Newton.
       - Thời gian vật lý và thời gian tâm lý:
        Có thể nói rằng cho tới thế kỷ thứ XVIII, không có sự cách biệt giữa triết học và khoa học, vì một lý do giản dị: các nhà triết học đồng thời là những nhà khoa học "văn võ song toàn", nghĩa là vừa là triết gia, vừa là toán học, vật lý học, thiên văn học, sinh học...
        Nhưng bắt đầu từ thế kỷ thứ XIX, những kiến thức của nhân loại trở thành mênh mông và phức tạp đến nỗi các học giả bắt buộc phải lựa chọn một ngành chuyên môn, để mỗi ngày tiến sâu vào ngành đó. Như vậy, dần dần triết học và khoa học đã rời xa nhau, cho tới khi không còn nói với nhau cùng một thứ tiếng, không còn dùng những khái niệm giống nhau. Ví dụ khái niệm thời gian chẳng hạn. Liệu thời gian của nhà khoa học có phải là thời gian của nhà triết học? Đó là câu hỏi đặt lên trong cuộc đối thoại tại Paris năm 1922 giữa các nhà khoa học và Einstein, về Thời gian và thuyết tương đối.

        Nhà bác học Bergson (1859-1941), nhà triết học, nhà văn Pháp, hỏi: Ông có chắc rằng thời gian của ông là thời gian của con người tầm thường không?, Einstein khẳng định: Thời gian của nhà triết học và thời gian của nhà vật lý học là một. Không có thời gian của triết học. Chỉ có thời gian tâm lý khác với thời gian của vật lý học. Chỉ có khoa học mới nói được sự thật. Câu trả lời độc đoán này làm Bergson vô cùng thất vọng, có lẽ là vì ông nói gà, bà nói vịt. Einstein đã quá mong đợi ở khoa học một sự xác nhận về trực giác của ông về thời gian.
        Thời gian của Einstein là thời gian vật lý, thời gian khoa học, không màu sắc hương vị, thời gian của cả vũ trụ, không phải của riêng con người. Thời gian đó chỉ là ảo tưởng, bởi vì không có thực chất, không có bề dày, không chia ra làm quá khứ, hiện tại và tương lai. Thời gian đó chính là không gian, nó có mặt trong mỗi sự vật, nó là sự vật. Con người không làm gì được trên nó, bởi vì nó chính là con người, là một sự vật.
        Thời gian của Bergson là thời gian tâm lý. Đối với ông, nó bao trùm tất cả, nó chính là sự sống, sự tiến hóa trong sáng tạo. Là thời gian được sống và cảm nhận trực tiếp bởi con người, với những cảm xúc của quá khứ, với bề dày của hiện tại và khả năng sáng tạo của tương lai. Thời gian đó có thể co giãn, ngưng lại, rút ngắn hay kéo dài, quay vòng trở lại. Con người có khả năng ảnh hưởng được vào nó, nhưng nó cũng có thể chế ngự con người.
        Để phân biệt hai loại thời gian này, người ta đã đề nghị gọi thời gian vật lý là chronos (tiếng Hy Lạp), và thời gian tâm lý là tempus (tiếng La tinh). Mỗi người sẽ gọi thời gian là chronos hay tempus tùy theo quan niệm của mình về thời gian.
      - Thời gian sâu thẳm, thời gian thẳng, thời gian chu kỳ và thời gian nằm ngang:

        Theo nhà cổ sinh vật học Mỹ Stephen Jay Gould (1941-2002) còn có một loại thời gian gọi là thời gian sâu thẳm, tức là thời gian địa chất, thời gian đó kéo dài trên hàng tỷ năm từ lúc hình thành trái đất, và mới được con người ý thức được từ chưa đầy hai thế kỷ nay. Nếu lấy chiều cao của tháp Eiffel để tả thời gian sâu thẳm, thì tất cả lịch sử loài người chỉ bằng bề dày của lớp sơn trên chóp tháp mà thôi!
        Và cũng có hai quan niệm về thời gian đã in sâu vào truyền thống Tây phương, đó là thời gian thẳng và thời gian chu kỳ, được biểu tượng bằng mũi tênvòng tròn. Theo quan niệm thời gian thẳng, lịch sử được coi như là sự nối tiếp một chiều của những sự kiện chỉ có mặt một lần. Mỗi khoảnh khắc đứng một vị trí riêng trong chuỗi thời gian, và toàn thể những khoảnh khắc thời gian chuyển vận theo một chiều hướng nhất định.
        Ngược lại, theo quan niệm thời gian chu kỳ, những sự kiện không còn tính chất riêng rẽ, nhưng thể hiện những điều căn bản luôn luôn có mặt và bất biến. Mọi biến chuyển nằm trong những chu kỳ được lập lại như vòng đời của sinh vật..., và những khác biệt trong quá khứ sẽ trở thành những thực hiện trong tương lai. Thời gian như vậy không có chiều hướng.   
        Ngược lại, trong phần Ecclésiaste, thời gian mang tính chất chu kỳ: Mặt trời mọc, mặt trời lặn, và mặt trời mọc trở lại. Gió thổi quanh, quay đi và trở lại. Tất cả các giòng sông chẩy về biển cả, và biển vẫn không đầy. Cái gì đã có sẽ có, cái gì đã thực hiện sẽ thực hiện trở lại, và không có gì mới mẽ dưới ánh mặt trời.
          Thời gian của Phật giáo là thời gian chu kỳ như một đời người là sinh lão bệnh tử và luân hồi. Trong Kinh dịch nói Thời gian đzawsp đổi hoặc thời gian tiêu trưởng, tức là âm thịnh thì dương suy, âm tăng thì dương giảm và cứ thế chu chuyển mãi.
        Theo Lý Thời Trân 李時珍 (1518-1593), nhà thực vật nổi tiếng Trung Quốc thời Nhà Minh viết trong tác phẩm khoa học: "Bản thảo cương mục": Muốn biết tuổi của cây cối bằng cách cưa ngang thân cây rồi đếm số thớ vòng tròn. Đó là thời gian nằm ngang trên thân cây.

        Chỉ cần quan sát thiên nhiên, người ta cũng thấy rõ tính chất chu kỳ của những biến đổi trong cuộc sống. Từ hơi thở, nhịp tim, sự co giãn bắp thịt, kinh nguyệt, cho tới sự bài tiết nội tuyến, những làn sóng điện trong não, dường như tất cả mọi sinh vật đều sống theo nhịp một chiếc đồng hồ sinh lý, theo luật thời gian chu kỳ. Nhìn rộng hơn, ngay cả trong thế giới khoáng chất, trái đất với bốn mùa, nước thủy triều, nắng mưa, gió bão, các vì sao và các hành tinh, đều vận chuyển theo thời gian chu kỳ.

        Nếu không có thời gian chu kỳ thì sẽ không có gì trở lại, không tiên đoán được việc gì xảy ra (mặt trời liệu còn có mọc ngày mai?), không có khoa học với các định luật, phương trình. Không có xe đạp, xe hơi, bởi vì không có bánh xe quay vòng, không có máy bay cánh quạt. Cũng không có âm nhạc, bởi vì sẽ không có nốt nhạc trở lại, không có điệp khúc. Không có thơ văn, bởi vì sẽ không có vần thơ, không có lời văn...
        Nhưng thật ra chính quan niệm thời gian thẳng dọc mới là động lực của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tại Tây phương từ thế kỷ thứ XVII. Bởi vì quan niệm thời gian thẳng, dọc bao hàm khái niệm tiến hóa và tiến bộ. Có thời gian thẳng dọc mới có khám phá, đả phá, xây dựng, phát triển. Theo Mircea Eliade, sự chú trọng tới tính chất "mới lạ" và "một chiều" của lịch sử là một khám phá tương đối mới trong đời sống nhân loại. Ngược lại, nhân loại cổ xưa cố hết sức tự bảo vệ chống lại tất cả những gì mới lạ và một chiều của lịch sử.
        Nếu quan niệm thời gian thẳng dọc phát triển mạnh mẽ trong văn minh Tây phương, thì quan niệm thời gian chu kỳ lại chế ngự văn minh Đông phương một cách rõ rệt. Chúng ta có thể tự hỏi rằng phải chăng một trong những lý do chậm trễ về khoa học kỹ thuật của Đông phương nằm chính trong quan niệm thời gian chu kỳ trội hẳn đó ?
        Thật ra, hai quan niệm thời gian thẳng dọc và thời gian chu kỳ, dưới hai ẩn dụ mũi tên và vòng tròn, đều đúng và sai như nhau. Đó chỉ là một cách nhìn nhị đối quen thuộc của người Tây phương. Cũng như nhiều sự phân đôi khác giữa linh hồn/thể xác; sáng tạo/tiến hóa; nhất nguyên/đa nguyên v.v.. cách nhìn đối chiếu này đều sai lầm hoặc thiếu sót, bởi vì chỉ thể hiện được một phần nào của thực tế vô cùng phức tạp. Đó chỉ là những phương tiện do con người chế tạo ra để làm sáng tỏ những suy nghĩ của mình.
        Hình ảnh thích hợp nhất về thời gian, có lẽ là thời gian vòng xoắn ốc, bởi vì vừa mang tính chất thẳng dọc vừa mang tính chất chu kỳ. Những gì xẩy ra cũng trở lại, nhưng không hoàn toàn như trước. Mặt trời mọc và lặn trở lại, bốn mùa quay trở lại và các thế hệ nối tiếp nhau, nhưng không có ngày nào giống ngày nào, và không có người nào giống người nào. Cũng như câu trả lời của nhà sư Nagâsena (Na Tiên) khi vua Milinda hỏi "ta" là gì. Nhà sư trả lời: Bệ hạ cũng như một ngọn lửa, đổi thay trong từng giây, từng phút, cũng không phải là ngọn lửa vùa rồi, nhưng cũng không phải là một ngọn lửa khác.

        Và biết đâu trong đạo Phật đều có cả hai ẩn dụ mũi tên và vòng tròn. Vòng luân hồi chẳng phải là vòng tròn và con đường giải thoát chẳng phải là mũi tên đó hay sao?
        5- THỜI GIAN TRONG PHẬT GIÁO
        - Vô thường, tính chất căn bản của hiện tượng:
        Đức Phật Thích Ca là người đầu tiên nhấn mạnh vào vô thường, tức là tính chất vô thường còn của sự vật, là sự biến đổi không ngừng của thế giới hiện tượng. Đối với đạo Phật, không có hiện hữu, chỉ có trở thành. Vô thường, cùng với vô ngã và khổ đau là ba đặc tính của đời sống. Ba đặc tính làm cho con người trầm luân trong vòng luân hồi, do cái nghiệp của mình gây nên. Nhưng chính nhờ cái nghiệp đó, cùng cái Phật tâm sẵn có trong mình, mà con người có thể, bằng cách kiên trì tu tập, giữ giới, định tâm, để đạt tới trí tuệ siêu việt và tự giải thoát ra khỏi vòng sinh tử, khổ đau.
        - Thái độ của người Phật tử trước vô thường:
        Thay vì lấy một thái độ thụ động trước vô thường, đạo Phật chủ trương lấy một thái độ sáng suốt và tích cực. Đầu tiên, con người phải ý thức rằng vô thường (sát na vô thường) là điều cần thiết cho sự sống, cho sự hiện hữu, và chính nhờ vô thường mới có sự chuyển đổi theo chiều hướng tốt, mới có hy vọng một ngày mai tươi sáng hơn, cho những người đang khổ đau. Sau đó phải quán chiếu sự vô thường trong mọi sự vật, để không còn lo ngại, sợ hãi những biến chuyển do nhất kỳ vô thường một ngày kia có thể xảy đến, chẳng hạn như khi mất một người thân trong gia đình, khi lâm bệnh nặng, khi mất tài của, hay khi bị tai nạn. Tất cả những điều đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào, và người Phật tử phải cố gắng tu tập để xem vô thường là một chuyện tất nhiên và thường tình.
                     6- THỜI GIAN TRONG CUỘC SỐNG
       "Thời gian qua nhanh thật!"
       "Nhìn con cháu mình lớn lên, mới thấy thời gian qua quá nhanh..."
       "Thời gian như ánh chớp, nháy mắt đã già nua"
       "Mới ngoảnh đi ngoảnh lại, đã thấy mình già đi"
         Những câu chuyện về thời gian, cũng như về thời tiết, là những câu chuyện thường tình người ta vẫn nói với nhau hàng ngày. Nhưng khi nói về thời tiết, nắng mưa, người ta thường nói chuyện bâng quơ, tầm phào, trong khi nói về thời gian, người ta bỗng thấy dâng lên một nỗi buồn man mác, kèm theo tiếng thở dài.
        Quả thật, thời gian băng qua nhanh như mũi tên, và con người chỉ có thể nhìn theo bất lực! Có lẽ chỉ có những nhà khoa học lẩm cẩm mới đặt ra vấn đề có "mũi tên thời gian", thời gian đi một chiều hay hai chiều. Đối với người thường, chỉ cần mở mắt ra đã thấy rõ rằng thời gian không bao giờ đi ngược trở lại. Cũng như hạt cát lùa qua kẽ tay không làm sao ngăn bắt được, như đóa hoa tàn úa không bao giờ tươi lại được, như mái tóc đốm bạc không bao giờ đen lại được. Người ta không bao giờ đi ngược lại được thời gian, dù rằng có thể gây nên những ảo tưởng đó, bằng cách chiếu ngược lại những phim ảnh, với những tài tử đi giật lùi trông đến buồn cười! Cuộc đời như một cuốn phim đặc biệt chỉ chiếu có một lần, hay như một cuốn sách đặc biệt mỗi trang chỉ lật qua một lần. Đó là cái giá (quá đắt chăng?) phải trả cho sự hiện hữu...
        - Ảo tưởng níu kéo lại thời gian:

        Nhưng ít người dám thẳng nhìn sự thật như vậy. Người ta tìm đủ mọi cách để nuôi dưỡng ảo tưởng níu kéo lại được thời gian. Biết bao người đã rời bỏ cuộc sống tầm thường, để đi tìm một con đường đưa tới Vĩnh cửu, tới Tuyệt đối. Faust, tên một nhân vật trong vở kịch của nhà văn, nhà thơ, triết gia người Đức Johann W. Goethe (1749-1832) đã không ngần ngại bán linh hồn mình, là cái gì quí giá nhất, cho quỷ, để mong trở thành bất tử. Từ trái đào tiên trong vườn Thánh mẫu cho tới viên hoàn đơn của Thái thượng Lão quân, từ củ nhân sâm cho tới bình Thánh Graal, đã có bao nhiêu huyền thoại về những phương pháp màu nhiệm để con người cải lão hoàn đồng. Đã có bao nhiêu vị hoàng đế, bao nhiêu nhà lãnh tụ ra đi để lại một cái xác ướp, với ảo vọng được tiếp tục sống vĩnh viễn bên thế giới bên kia! Và cũng đã có bao nhiêu chuyện tưởng tượng như của H.G. Wells (1886-1946), nhà bác học Anh quốc, với cái máy đi ngược lại thời gian, chỉ cần ngồi vào trong đó, bấm một vài nút là đã thấy mình quay trở lại vài thế kỷ về trước.
        Hỡi ôi, tất cả chỉ là ảo tưởng, hoang đường! Ngoài khoa học ra, với những tiến bộ gần đây của y học đã tương đối kéo dài cuộc sống của con người, không có gì ảnh hưởng được vào thời gian. Tất cả những liều thuốc "mang lại trẻ trung", như thuốc nhân sâm, đông trùng hạ thảo, sừng tê giác, hải mã, cao hổ, mật gấu, mật rắn, sinh tố, mélatonine và vô số các thực phẩm dinh dưỡng v.v...đều là những món hàng tung ra bởi những kẻ lợi dụng những ảo tưởng của con người. Và mới đây, các nhà sinh học vừa mới thành công trong việc nhân hữu tính trên các con vật, khơi dậy lên bao nhiêu ảo mộng bất tử của con người. Rốt cục tất cả chỉ là hão huyền trong những hão huyền.

        - Thời gian ngắn, dài:

        Người ta thường chú trọng tới thời gian khi đã bắt đầu có tuổi, tức là khi bắt đầu đếm ngược thời gian còn lại. Hồi bé, người ta thường ao ước thời gian qua mau để chóng thành người lớn, nhưng về già người ta chỉ cầu mong thời gian đi chậm hơn một chút để kéo dài sự trẻ trung. Một năm đối với người trẻ thì dài và phung phí, nhưng đối với người già là một khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi và quí báu.

        Trong cuộc sống hàng ngày, thời gian còn có một khả năng co giãn lạ lùng. Đối với mỗi người, thời gian không đi qua đều đặn như chiếc kim đồng hồ, trái lại lúc thì lướt nhanh vùn vụt, lúc thì chậm chạp đến phát điên. Trong khi chờ đợi, trong lúc chán chường, những đêm mất ngủ, chúng ta thấy thời gian đi quá chậm! Trong lúc vui tươi, những khi hẹn hò, trong khi hồ hởi, chúng ta tiếc thời gian qua quá nhanh! Trí nhớ của con người để làm chi, nếu không phải là để kéo dài thời gian trong tưởng nhớ? Khả năng quên đi của con người để làm chi, nếu không phải là để xóa bỏ một phần thời gian trong quá khứ?
        Tôi thường so sánh tốc độ của đời người với tốc độ của một vật rơi tự do trong  khoảng không, tức là càng về già thì thời gian trôi qua mỗi ngày một nhanh: vật rơi tự do càng gần chạm đất thì thì gia tốc mỗi lúc một nhanh. Càng về sau, chúng ta càng cảm thấy cuộc đời trôi qua quá nhanh. Cũng như trong một chuyến du lịch, những ngày đầu trôi qua rất chậm, nhưng những ngày cuối lướt qua nhanh vô cùng. Bởi vì tất cả đều mới lạ lúc ban đầu, trong khi đó, vào cuối chuyến du lịch cũng như cuối cuộc đời, tất cả dường như đã quá quen thuộc, và chúng ta chỉ còn nhấm nháp lại một số kỷ niệm xa xưa.
          - Chạy đua với thời gian. Nghịch lý của thời gian:

        Vào thế kỷ trước tại các nước Tây phương, người ta có thói quen đi đường lâu lâu dừng lại, rút trong túi ra chiếc đồng hồ quả quýt, chậm rãi nhìn giờ, rồi bỏ lại vào túi, thong dong bước đi. Ngày nay, người ta vội vã đến nỗi chỉ còn kịp liếc mắt vào chiếc đồng hồ trên bảng xe hơi, rồi nhấn ga, vọt lẹ.
        Cách đây chưa lâu, khách du lịch sang thăm Việt Nam thường để ý thấy mọi người ung dung đạp xe đạp, chậm rãi dạo chơi trong đường phố, hay suốt ngày ngồi chơi sơi nước trong các cơ quan. Ngày nay, với "kinh tế thị trường" và cuộc sống "đổi mới", mọi người đã bắt đầu vội vã, tăng tả, vọt lẹ trên những chiếc Honda, bất kể những người qua đường. Ngày xưa, người ta còn nghèo nhưng thừa thời giờ, ngày nay đã có tiền nhưng lại ít thời gian. Ai bảo "thời giờ là vàng bạc"? Liệu có đổi chác được thời giờ thành tiền bạc, hay dùng tiền bạc mua lại được thời gian?
        Người ta thường chạy theo thời gian, vừa muốn níu kéo lại, vừa muốn vượt nhanh hơn, thật mới buồn cười làm sao. Chỉ chờ đợi vài phút trước đèn đỏ, đã lên tiếng càu nhàu, và đèn vừa xanh thì đã vụt lên, phóng nhanh chạy ẩu. Nhanh để làm gì ? Để được thêm thời gian ư? Làm gì có thời gian mà thêm...Chờ đợi lâu mất thời giờ ư? Làm gì có thời giờ mà mất...Có khi nhanh một phút chậm cả cuộc đời!

        Trong cuộc chạy đua với thời gian, con người chắc chắn chỉ có thể thua chứ không bao giờ thắng. Thời gian luôn luôn đuổi kịp mình, cũng như bóng với hình, không làm sao chạy thoát, và mọi sinh vật bị thời gian bủa vây như một cái lưới, dù vùng vẫy tới đâu cũng vô ích. Ngạn ngữ Pháp có câu: Những mũi tên đầu tiên chỉ gây tổn thương, mũi tên cuối cùng thì kết liễu, để so sánh thời gian với những mũi tên không ngừng bắn vào mạng sống con người.
        Điều nghịch lý với thời gian, là càng nắm chặt thời gian thì lại càng bị thời gian vuột mất, càng buông thả thì lại càng kéo lại được thời gian. Càng vội vàng hấp tấp thì lại càng bị thời gian đuổi riết, càng thư thả khoan thai, không màng tới thời gian, thì lại càng được thời gian quên đi, lại càng thừa thãi thời gian.

        Và không có gì làm con người lệ thuộc thời gian hơn là chờ đợi. Người ta không khỏi nôn nóng, sốt ruột trong khi chờ đợi, nhất là khi chời đợi người yêu! Chờ đợi một tin quan trọng nào đó, thì thời gian sao dài vô tận vậy.  Ngược lại, khi chú tâm vào một việc gì, dù vô ích (như lướt web, chơi ô chữ, chơi cờ...), để người ta thường quên đi thời gian, thời gian qua rất mau, nên gọi là "giết" thời gian (nhưng ai giết ai ?). Nói tóm lại, chạy theo thời gian thì lại bị thời gian đuổi, quên đi thời gian thì lại được thời gian quên...
        Cố tổng thống Pháp Mitterrand (1916-1996) đã có một câu nổi tiếng: "Phải để thời gian cho thời gian". Hồi bị bắt giam bên Đức, ông đã phải vượt tù ba lần mới thành công, rồi đến khi ứng cử tổng thống, cũng phải đợi lần thứ ba ông mới đắc cử, và sau đó cầm đầu nước Pháp trong 14 năm trời ! Biết kiên nhẫn chờ đợi tức là tự cho mình thời gian, là điều kiện của thành công. Và biết chờ đợi mới là chiến thắng thực sự trên thời gian và trên chính mình...Việt vương Câu Tiễn, nằm gai nếm mật để chờ thời cơ phục quốc là một thí dụ sinh động của Phương Đông.
        - Thời gian có thể nào ngừng lại?
        Thời gian không thể nào ngừng lại được, vì một lý do giản dị là thời gian không bao giờ đi, không bao giờ chảy. Miêu tả thời gian bằng hình ảnh con người ngồi trong xe lửa nhìn phong cảnh lướt qua, hay đứng bên bờ sông nhìn giòng nước trôi qua đều là sai lầm. Con người thuộc vào phong cảnh, thuộc vào dòng sông, và như vậy đối với thời gian con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể. (Các bạn hãy suy luận vấn đề này)
        Trong một cuốn sách mới ra, tựa đề "Ngày mà thời gian ngừng lại", giáo sư Jean Bernard (1907-2006), người Pháp, đưa ra một giả thuyết hoàn toàn tưởng tượng: Vào một giờ phút nào đó, thời gian bỗng nhiên ngừng lại, gây nên muôn vàn xáo trộn trong xã hội, và đặt ra những câu hỏi triết học và khoa học vô cùng nan giải. Nhưng thật ra, nghĩ cho cùng, đó chỉ có thể là kim đồng hồ ngừng lại, chứ không thể nào tất cả thời gian trong vũ trụ ngừng lại được. Bởi vì nếu thời gian ngừng lại sẽ không còn gì hết, sẽ là tận thế. Hơn nữa, sẽ không còn ai để mà cảm nhận được đó là tận thế !

        - Làm gì với thời gian ? Làm thế nào quản lý được thời gian ?
         Phần lớn những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm mang lại cho con người ngày hôm nay nhiều thời gian hơn. Người ta đi lại nhanh hơn, thông tin nhanh hơn, làm việc nhanh hơn, ăn uống nhanh hơn, nội trợ nhanh hơn. Nhờ những tiện nghi cơ giới và điện tử mỗi ngày một thêm hữu hiệu, những công tác hàng ngày trở nên mỗi ngày một thêm nhẹ nhàng, nhanh chóng. Từ tuần làm việc hơn 40 giờ vào đầu thế kỷ, nay sắp giảm đi còn 35 giờ, và sẽ có triển vọng xuống dưới 30 giờ trong thế kỷ sắp tới. Người ta sẽ có nhiều thời giờ hơn để thể thao, để học hỏi, để giải trí, để dậy dỗ con cái.
       Đó là trên lý thuyết, nhưng trên thực tế, tại sao con người mỗi ngày một sống vội vàng hơn, phù phiếm hơn, tại sao tinh thần càng ngày càng căng thẳng hơn, giáo dục gia đình càng lỏng lẻo hơn? Tại sao càng thừa thời gian, người ta lại càng cảm thấy thiếu, cũng như càng kiếm nhiều tiền, người ta lại càng cảm thấy thiếu tiền?
        Hiện nay tất cả thế giới đang hướng về xã hội công nghiệp và kinh tế tư bản hay "kinh tế thị trường", với hiệu quả kinh tế tối đa làm chủ đích. Đa số mọi hoạt động trong xã hội đều nhắm vào hiệu quả sản xuất, mỗi ngày một nhiều hơn và nhanh chóng hơn. Vì thời giờ là tiền bạc, cho nên người ta không có quyền mất những giây phút quí báu. Ăn nhanh, dịch vụ nhanh, tin nhanh, cái gì cũng nhanh...đã trở thành những nhãn hiệu thời thượng. Và đương nhiên, stress trở thành căn bệnh của thời đại, với trăm ngàn chứng bệnh, như cao huyết áp, tiểu đường, bệnh gút, nhức đầu, đau lưng, táo bón, mất ngủ... Đó là chưa kể tới những tai nạn xe hơi, những trường hợp tự tử, đặc biệt trong giới trẻ, những trạng thái suy sút tinh thần, những đổ vỡ gia đình, nạn ma túy... tất cả những vấn đề ít nhiều liên quan tới stress, do áp lực gây nên bởi thời gian.
        Nhưng may thay, đã bắt đầu có những phản ứng xuất hiện, chống lại sự "chuyên chế" của thời gian. Thay vì hối nhau: Nhanh lên!, người ta đã bắt đầu khuyên nhủ lẫn nhau: Hãy sống chậm, buông xả, bình tĩnh, đừng lo nghĩ, hãy Thiền. Người ta đã bắt đầu sống chậm, chấp nhận làm việc ít hơn, với tiền lương ít hơn, hay nghỉ hưu sớm hơn, về hưu là về vườn, về quê...với suy nghĩ là hưởng được nhiều thời gian còn lại hơn.
       Nghĩ cho cùng, không bị áp lực của thời gian, tức là sự thảnh thơi thần trí, rốt cục đó mới là quí hơn vàng bạc. Nhiều người đã chối bỏ cuộc sống xô bồ của thành thị để trở về sống giữa thôn quê, theo nhịp sống của thiên nhiên. Người thì quay về với những phương pháp cổ truyền như Dưỡng sinh, Thiền hay Thái cực quyền, đi bộ, đi xe đạp, ngưới thì dùng thể thao, âm nhạc, nghệ thuật để tìm lại sự thăng bằng thần trí. Không ai bảo ai, con người của đầu thế kỷ 21 đang tìm một lối thoát ra khỏi áp lực của thời gian, bằng cách dùng thời gian một cách khôn khéo hơn, cho một hạnh phúc bền bỉ hơn.
        7- Kết luận:

        Thời gian quả thật là một đề tài vô tận. Tôi ý thức được điều đó trong khi đi sâu vào trận địa... hay rừng rậm...hay sa mạc...của thời gian. Có lẽ cống hiến cả cuộc đời cho đề tài này cũng không hết, huống chi chỉ quan tâm đến nó trong một khoảng thời gian ngắn ngủi.
        Vậy làm thế nào kết luận, và liệu có cần kết luận? Nếu quả đề tài này thật là vô tận, thì không cần gì đến kết luận. Còn nếu muốn có kết luận tạm thời, thì chỉ xin đưa ra một nhận xét: Thời gian rất đa dạng và mang đầy nghịch lý! Nghệ thuật sống có lẽ là nghệ thuật dùng thời gian, làm thế nào điều khiển được thời gian, mà không bị thời gian điều khiển.

        Vậy Thời gian là gì ? Thời gian như lời của Jorge Luis Borges (1899-1986), nhà văn Mỹ, một trong những nhà văn lớn nhất, có ảnh hưởng thế giới của thế kỷ 20:
              Thời gian là một ngọn lửa thiêu đốt ta.
              Nhưng chính ta là ngọn lửa thiêu đốt đó.
 
                                                                                 P.T
                                                              Việt Trì, ngày 25/12/2013




 

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 
 
  Bài viết mới
  Hoạt động đó đây
  Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ trực tuyến 2
Tư vấn tạo web
Hỗ trợ trực tuyến 1
Tư vấn tạo web

Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Phú Thọ

Số 1518 Đại lộ Hùng Vương phường Gia Cẩm thành phố Việt Trì Phú Thọ

Trưởng ban nội dung: Lương Văn Thắng. Phó ban Thường trực: Phùng Văn Vinh.
 Chủ nhiêm Website: nhà văn Nguyễn Đức Sơn
Điện thoại : 02103 818 567 -  Email : soncam52@gmail.com
Bản quyền thuộc Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Phú Thọ