Tin tức
  Thống kê truy cập
Đang truy cập
Lượt truy cập
  KHÚC NHẠC THU TÂY BẮC

   Đúng theo kế hoạch, 4h00 sáng ngày 22 tháng 9 năm 2015. Đoàn văn nghệ sĩ Thanh Sơn gồm các nghệ sĩ Nhiếp ảnh Tiến Hải, Út Mười, Tuấn Tài và nhà văn Cầm Sơn  khởi hành lên  miền Tây Bắc.

                       

Xe chạy ban đêm đường vắng nên tốc độ khá thoải mái. Dừng chân ăn sáng tại ngã ba Ba Khe trong thời tiết mưa nặng hạt rồi xe tiếp tục hành trình. Khi chạy qua Nghĩa Lộ tôi nhìn thấy một cái cổng mang tấm biển “Lâm trường Văn Chấn”, không biết có đúng hay tôi nhìn nhầm chứ đến tận bây giờ vẫn còn Lâm trường thì thật cũng lạ. Tôi vào hỏi ông Google thì thấy từ 2010 nó đã được đổi tên là Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Văn Chấn có trụ sở tại xã Nậm Búng. Tôi đã từng có 40 năm làm việc ở Lâm trường nên rất hiểu mô hình tổ chức kinh doanh này. Đối với ngành Lâm nghiệp, không thể phủ nhận những công lao đóng góp của các Lâm trường cho sự nghiệp bảo vệ, phát triển rừng trải qua các thời kỳ. Nhưng đến nay có thể nói nó đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, kể cả mô hình Công ty TNHH một thành viên cũng không còn phù hợp nữa, bởi mô hình này chẳng khác gì Lâm trường ngày trước, như người xưa nói là “cùng mắm khác lọ” . Tuy nhiên, nội dung này không phải là chủ đề chính của bài viết nên xin phép để luận bàn vào dịp khác. Xe chạy trên địa phận huyện Văn Chấn, nhìn sang hai bên thấy có rừng trồng thông xen kẽ với rừng trồng cao su. Cây thông trồng trên vùng núi Tây Bắc thì hẳn nhiên không nói làm gì. Nhưng còn cây cao su?Cao su đã từng được trồng ở huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ có vĩ độ thấp hơn Yên Bái vào những năm thuộc thập kỷ 60 thế kỷ trước. Nông trường Phú Sơn đã lấy nhựa và đã từng cho xây dựng hẳn một cái xưởng sơ chế mủ cao su. Vậy mà phải phá bỏ bởi có một mùa đông sương buốt lạnh, cái mà dân miền Bắc hay gọi là sương muối đã giết chết hàng loạt cánh rừng cao su của Nông trường, thay vào đó là cây chè còn tồn tại mãi đến giờ và đã phát triển thành một vùng chè chủ lực. Biết rằng ở vĩ độ cao hơn, bên Vân Nam trung Quốc người ta đã trồng cao su thành công, tuy khí hậu lạnh hơn nhưng bên ấy họ không có sương muối. Hồi tôi còn làm việc, năm 2007 sương muối đã giết chết 1.500 ha rừng keo của cái Lâm trường tôi lãnh đạo. Đến như cây keo còn bị chết vì sương muối nữa là cây cao su. Vậy mà bây giờ nó lại được hô hào trồng ở Yên Bái, ở Sơn La nghe nói là cả ở Lai Châu nữa. Liệu rồi sẽ ra sao? Tôi nhớ lại ở Khu Kinh tế Thanh niên người ta đã từng phải phá chuối trồng rứa rồi lại phá rứa trồng chè hoặc ở Tuyên Quang phá xả trồng cỏ nuôi bò và đàn bò sau đó đã bị phá sản để thay vào đó là rừng keo. Không biết những dự án ấy có dựa trên cơ sở khoa học tin cậy nào không hay chỉ là sự trên tung dưới hứng làm vừa lòngsự hưng phấn tức thời của một “ông to” nào đấy, để rồi kết quả là lãng phí thời gian, lao động, tiền bạc và hậu quả cuối cùng lại đổ tất cả vào đầu dân.
Xã cuối cùng của huyện Văn Chấn là Tú Lệ có cánh đồng lúa nằm trong xứ Mường Lò đã đi vào ngạn ngữ của miền Tây Bắc “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc”. Vượt qua xã Tú Lệ là vào địa phận huyện Mù Cang Chải. Bây giờ ta hãy vượt đèo Khau Phạ để “Bay trên mùa vàng” cái đã. Cánh đồng Tú Lệ sẽ trở lại ở đoạn cuối của bài viết này. Rất may là trời trở lại tạnh ráo. Tuy không có nắng vàng nhưng trời quang, mây tạnh nên vẫn có thể dừng chân trên đèo Khau Phạ để chụp ảnh cánh đồng Tú Lệ. Lễ hội ruộng bậc thang Mù Cang Chải đã qua nên lượng khách không đông. Chủ yếu là các Nhiếp ảnh gia săn hình bởi thực sự lúa cũng chưa chín rộ, vàng ươm như dịp lễ hội năm ngoái. Ở đây, theo sắp xếp của nữ phiên dịch viên Dương Trang, chúng tôi chụp ảnh chung với đoàn Nhiếp ảnh gia tới từ Vương Quốc Anh, họ đã đi qua nhiều tỉnh, nhiều danh lam thắng cảnh và đã lưu lại nơi này từ hai hôm trước. Gặp cháu lái xe có tên là Trường từ Yên Bái đưa hai vợ chồng trẻ đến từ Tây Ban Nha đi du hí hưởng tuần trăng mật, Trường hỏi đường sang Hòa bình tới Bản Lác. Tôi hướng dẫn đường và giới thiệu là vào Bản Lác thì hỏi và nghỉ lại ở nhà Lò Cao Nhum, ông ấy là nhà văn sẽ có nhiều thông tin tốt cho du khách. Chúng tôi tiếp tục đi đến Ngã ba Kim để tìm nhà nghỉ. Trên đường đi mây lại mù trời, trắng xóa, tầm nhìn chỉ hơn mười mét nhưng qua đỉnh đèo sang phía bên kia thì trời lại sáng. Thời tiết miền núi rừng Tây Bắc giống như cô gái trẻ lúc vui vẻ, lúc dỗi hờn làm nũng người yêu. Chúng tôi lấy phòng và ăn cơm trưa tại nhà nghỉ Hải Yến, vì không có khách nên mỗi phòng hai giường đôi giá chỉ 150 ngàn đồng. Ngay cạnh nhà nghỉ này, có một ngôi nhà mới bị cháy. Theo chủ quán Nguyễn Duy Đoàn cho biết là vừa bị cháy hôm 20 tháng 9, nguyên nhân do bán xăng lẻ bất cẩn gây cháy làm chết một người đang mang thai bị ngạt trong nhà.
Buổi chiều có nắng, chúng tôi đi dọc Quốc lộ chụp hình. Bấm máy nhiều lần và người nào cũng chọn được cho mình ít nhất một chiếc ảnh đẹp. Gặp một đoàn phượt trên màu áo đỏ mang tên “Tô Màu” của các cháu đi từ Sài Gòn gồm Duy Anh, Việt Trinh, Minh Hưng và Võ Hoàn dựng lều bạt ven đường đang xì xụp nấu nướng. Các cháu bảo đi một tháng rồi và dự định còn đi tiếp một tháng nữa để qua đủ 61 tỉnh thành. Bữa cơm chiều tại nhà nghỉ gặp một đoàn người Mông đến từ bản Mý Hắng xã Mồ Dề. Có hai cặp vợ chồng rất trẻ, trông bề ngoài chỉ mới thoát khỏi tuổi thiếu niên. Theo Sùng Chờ Dằng, người lớn tuổi nhất đoàn cho biết thì hai cháu này đều tuổi 17 nhưng cũng đã là mẹ của hai đứa con. Phụ nữ người Mông lấy chồng rất sớm, nhiều trường hợp 13 tuổi lấy chồng, 15 tuổi đã làm mẹ. Tập tục này không dễ gì bỏ được. Có chuyện vui như sau: Một nhà báo phỏng vấn chủ tịch xã người Mông: “ Vậy là xã ta vẫn chưa xóa được hủ tục tảo hôn” Chủ tịch xã trả lời: “Đâu có, trai gái lấy vợ lấy chồng sớm nhưng đợi đủ tuổi nó mới lên xã đăng ký chớ. Làm gì có tảo hôn!”.
Đêm, mưa rả rích. Ai cũng lo ngày mai nằm khàn. Tuấn Tài bảo đi tìm một cái quán thịt chó là tốt nhất nhưng xứ này khó bởi người Mông không ăn thịt chó. Chẳng biết có phải vậy không nhưng ở Ngã Ba Kim không thấy có một quán nhậu thịt chó nào thật. Sáng hôm sau lại tạnh mưa, quang mây, trời hừng sáng. Dự định vào Dế Xu Phình, đến chiều mới lên mâm xôi đón ánh nắng xiên khoai mâm xôi mới đẹp nhưng thấy suối lũ, lại được biết xe chỉ chạy được ba cây số còn thì phải đi bộ nên đoàn quyết định lên khu ruộng mâm xôi ngay trong buổi sáng. Thuê bốn chiếc xe ôm giá cả đi và về 80 ngàn đồng một người. Lý A Thào công an viên xóm cầu Ba Nhà bảo đấy là giá ngày thường chứ ngày lễ hôm nọ phải 150 ngàn đồng. Những tay lái xe ôm người Mông đúng là “không đùa được”. Đường lầy thụt, độ dốc lớn, trơn nhầy láng bóng, bánh xe sau đi vào vệt bánh xe trước thành rãnh sâu trên lòng đường mà tay lái vẫn cứ bon bon. Nhiều đoạn chênh vênh nếu mà ngã thì rất nguy hiểm, bảo lái xe cho xuống đi bộ thì được trả lời là bác cứ ngồi, yên trí không sao đâu. Đúng là khách đi lại khá nhiều nhưng chả ai làm sao thật. Trừ Lý A Thào có vẻ tuổi ngoài 40 còn Lý A Tua, Lý A Cu, Lý A Tóng đều còn rất trẻ. Xe ôm ở đây chính thức là một nghề. Bánh xe được gia cố thêm một vòng bám đường chống trơn chế tạo bằng một loại xích nhỏ như xích cam xe máy. Buổi trưa, đoàn đưa 500 ngàn đồng cho gia chủ và ăm cơm cùng gia đình Lý A Dê. Lý A Dê có vợ là Mùa Thị Mao 25 tuổi, hai đứa con gái bụ bẫm, kháu khỉnh và rất đáng yêu ở bản Háng Sung xã La Pán Tẩn ngay bên trên cái ruộng hình mâm xôi. Bữa cơm có rau cải nương , bí ngô non và thịt gà. Lại còn có cả một bát to tiết canh gà. Tôi bảo chúng tôi chưa ăn tiết canh gà bao giờ nên phải nấu chín, loanh quanh mãi Lý A Dê mới cho vào nồi hấp, có vẻ như cậu ta tiếc lắm bởi tiết canh gà là món ăn khoái khẩu của dân bản nơi đây. Tôi thấy một cái mẹt đựng những bông gần giống bông hoa mào gà, hỏi thì được biết đấy là bông quả hạt giống của một loại cây mọc hoang dại được người Mông trồng làm rau ăn, gọi là cây rau Súng Tù. Được mời đến cùng dự bữa cơm với đoàn có thêm Lý Pla Ký là bố đẻ, Lý A Su là anh và Lý A Sào là em Lý A Dê. Lý Pla Ký cũng mới chỉ ngoài 50 tuổi nhưng không nói được tiếng phổ thông, người già ở bản hầu hết đều không nói được. Nói thế nào thì vợ Lý A Dê cũng không ngồi cùng, chỉ khi chúng tôi ăn xong đứng dậy thì Mùa Thị Mao mới ngồi xuống mâm cơm. Có vẻ người phụ nữ nơi này khá vất vả, bận rộn, lúc nào cũng có trẻ nhỏ trên lưng, không phải là con thì là cháu bởi bản không có nhà gửi trẻ. Ngoài việc đồng áng, nương rẫy ra, người phụ nữ còn phải tranh thủ thời gian nhuộm vải, thêu thùa để làm váy áo không có lúc nào ngơi tay. Bản Háng Sung có 45 nóc nhà, toàn là nhà đất thưng gỗ ở liền kề nhau, nhà trên nhà dưới, chuồng trâu chuồng lợn ken dầy, phân gà phân lợn đầy sân bốc mùi khó chịu. trời mới mưa càng nhầy nhụa, bẩn thỉu lại trơn trượt rất khó di chuyển. Trừ Út Mười đeo cái giầy có đóng đanh dưới đế của Mỹ, còn tôi, Tuấn Tài, và cả Tiến Hải đều ít nhất một lần bị ngã, bẩn hết cả áo quần, bùn đất dây cả vào ống kính. Canh tác chủ yếu của dân bản nơi đây dựa vào trồng lúa nước trên ruộng bậc thang và trông ngô trên nương rẫy. Như nhà Lý A Dê mỗi năm thu hoạch một tấn lúa, một tấn ngô nuôi được trên dưới 3 tạ lợn và gà vịt tự sản tự tiêu. Việc phục vụ khách du lịch đặt cơm như đoàn chúng tôi rất ít gặp. Mà bản làng vệ sinh kém như thế thì khó có người muốn ở lại ăn cơm, chỉ có mấy tay săn ảnh dở hơi bần cùng phải nghỉ lại như chúng tôi mới làm chuyện ấy. Buổi chiều có nắng, đoàn thuê 7 phụ nữ ăn vận trang phục truyền thống mất 220 ngàn đồng đi ra khu ruộng mâm xôi làm mẫu. Ở đây chúng tôi gặp một đoàn nhiếp ảnh từ Kiên Giang ra, Tuấn Tài có quen một người chào hỏi có vẻ thân thiết nhưng hóa ra cũng mới gặp lần đầu, quen nhau trên Facebook. Gặp một số nhiếp ảnh và thanh niên từ các tỉnh và lại gặp đoàn Nhiếp ảnh Vương quốc Anh. Có nghĩa là, dù đường trơn, khó đi nhưng khách săn ảnh các nơi vẫn kéo lên La Pán Tẩn. Khát, muốn có một chai nước phải gọi cho cánh xe ôm mua từ dưới đường mang lên. Tiến Hải nói với Lý A Tua: “sao không mở ngay một quán nước trên này, bán đắt lên gấp đôi người ta cũng mua” Lý A Tua bảo xã người ta không cho làm. Nói là nói vậy chứ làm gì có xã nào lại không cho làm.
Buổi chiều xuống núi, chúng tôi dời Mù Cang Chải. Qua Tú Lệ, nhiều nhà mời mua cốm. Chúng tôi lại vào nhà Hoàng Văn Huyện có vợ là Vi Thị Lùn đã từng mua cốm và chụp ảnh năm ngoái. Yêu cầu mấy cô, mấy bà phải bận trang phục truyền thống mới mua. Vậy là huy động được ba bà và một cháu làm các động tác trong quy trình sản xuất cốm để bấm máy. Địa danh nơi này là bản Nà Lóng thuộc xã Tú Lệ, cư dân chủ yếu là người Thái nhưng cũng có người Tày và người Kinh. Hoàng Thu Hà bảo em là người Tày nhưng chung ngôn ngữ với người Thái. Cháu Lò Thị thúy Vân rất xinh gái, nhanh nhẹn, đang học lớp 10 nhưng mấy bà bảo nó đã ăn hỏi rồi. Chả biết có đúng không nhưng nhìn bề ngoài thấy cháu đã là một thiếu nữ thực thụ, lại có cái name facebook lạ tai là “Bé Bi tập yêu”. Chắc cũng học đến đấy rồi lo lấy chồng thôi. Hoàng Văn Huyện cho biết: Dân Tú Lệ nhà nào cũng có ruộng cấy lúa nước và có nương rẫy trồng ngô. Nhà Huyện hai vợ chồng, hai đứa con mỗi năm có thu hoạch 6 tạ lúa, một tấn ngô,sản xuất 3 tạ cốm bán với giá 100 ngàn đồng một cân. Ngoài ra còn nuôi lợn xuất chuồng mỗi năm trên dưới 20 con. Đời sống như vậy không còn là thấp nữa nhưng cũng chưa thể giàu.
Đêm thứ hai chúng tôi nghỉ lại thị xã Nghĩa Lộ để sáng ngày thứ ba lên thăm Suối Giàng. Từ thị xã Nghĩa Lộ xuống phố huyện phải đi qua cầu Ngòi Thia có cái ngã ba của hai con suối. Con đường từ thị trấn phố huyện Văn Chấn lên xã Suối Giàng có độ dài 12 cây số. Là bản người Mông thuộc dòng Mông Lềnh nên đường vẫn là đi lên núi cao. Út Mười cho xe chạy theo đường bê tông vòng véo chênh vênh lên tận bản Giàng A. Cụt đường, may mà còn có cái sân của nhà cuối đường vào quay đầu xe chứ không thì chả biết làm thế nào. Ngồi ngoài hiên nhà là một cụ bà, được biết cụ tên là Chắng Thị Măng thọ 95 tuổi mà trông vẫn còn khỏe mạnh, tinh nhanh. Người ở vùng núi cao dù đời sống kham khổ nhưng tuổi thọ bình quân lớn hơn nhiều vùng đồng bằng, thành phố. Lại nhớ đến xã Đồng Sơn bên Phú Thọ hiện có đến 5 cụ già đang ở tuổi thọ trên 100. Có thể do nhiều lý do nhưng trong đó chắc chắn có một lý do là khí hậu trong lành. Đường chỉ rộng khoảng 2,5 mét vừa dốc đứng, vừa ngoằn ngoèo, xe tiến xuống nhưng Tuấn Tài phải đi trước giữa đường làm tiêu bởi độ dốc lớn quá, lái xe không nhìn thấy tim đường. Chúng tôi dừng lại bản Giàng B, trung tâm xã Suối Giàng. Ở đây có nhiều cửa hàng bán chè đặc sản và đá mỹ nghệ chế tác. Có nhiều cây chè cổ thụ mọc phân tán trên khắp các sườn đồi. Chúng tôi vào cửa hàng Đằng Trà có cô chủ tên là Chang Thị Chư. Ở đây có nhiều cây chè Shan cổ thụ. Chang Thị Chư bảo nhà bố mẹ chồng em trong bản, đây là cái nương chè có từ xa xưa. Sau này người ta mở đường thì nó lại trở thành mặt lộ, chúng em mới làm nhà, làm cửa hàng ra ở ngoài này. Cửa hàng bên cạnh là của em chồng em. Theo Chư nói thì dân bản cũng có ruộng cấy lúa nước nhưng cách xa bản bốn năm cây số. Nguồn sống chính vẫn là canh tác lúa nước trên ruộng bậc thang, ngoài ra còn có thu nhập từ ngô trồng trên nương và đặc sản chè Shan. Mượn được cháu Ràng Thị Hoa em chồng cô chủ cửa hàng sinh năm 1995 mới học xong Cao Đẳng Văn hóa Du lịch Yên Bái làm mẫu hái chè. Tôi hỏi có biết nhà văn Hà Lâm Kỳ không, cháu nói thầy ấy dạy du lịch còn cháu học nhạc nhưng là hiệu trưởng nên học sinh nào chả biết thầy. Út Mười bảo cháu học Văn hóa thì làm việc luôn cho nhà mình còn phải xin việc ở đâu nữa cho thêm phiền. Chúng tôi bấm máy, các nghệ sĩ nhiếp ảnh thuộc đoàn Hà Nội cũng bấm máy thoải mái ghi hình cô gái Mông hái búp trên cây chè cổ thụ. Cháu Hoa học văn hóa nên ít nhiều cũng biết tạo hình làm cho các tay máy vô cùng hứng khởi. Chia tay cô chủ cừa hàng Chang Thị Chư và cháu Ràng Thị Hoa, chúng tôi người nào cũng mua chút ít chè đặc sản. Chè ở đây có nhiều loại, loại thấp nhất có gía 300 ngàn đồng, loại cao nhất có giá 2 triệu đồng một ký.
Rời xã Suối Giàng, chúng tôi xuống núi. Đường xuống thị trấn phố huyện Văn Chấn đi qua khu vực chế tác đá nghệ thuật. Đá được khai thác từ các quả đồi trên xã Suối Giàng đem về đủ các cỡ, đủ các màu sắc được những nghệ nhân chế tác thành những tác phẩm nghệ thuật hoặc thậm chí xẻ vuông đánh bóng làm thành một cái giường nằm, cũng có khi chỉ đánh bóng tự nhiên theo viên đá chẳng rõ hình thù là gì, ai muốn hiểu sao cũng được. Ngoài ra vùng này còn là vùng có nhiều cây quế. Tôi ghi được hình một nhà đang phơi các thanh quế. Chủ nhà bảo loại gọt vỏ được bán với giá 80 ngàn đồng còn loại quế thanh để nguyên vỏ được bán với giá 50 ngàn đồng trên một kg. Nghỉ ăn cơm trưa tại phố huyện Văn Chấn. Nhà hàng cho chúng tôi thưởng thức món cá trườn đồi. Loài cá này giống cá bống nhưng to và đen chỉ ăn rêu đá sống ở suối nước trong nên có vị ngọt, thơm và bùi. Suối ở đâu còn cá bống, còn cá trườn đồi thì chứng tỏ ở đấy môi trường còn trong lành, là điều rất đáng mừng. Đối với những người đã từng nhiều năm công tác trong ngành bảo vệ môi trường như tôi thì càng cảm nhận được sự quý giá của nó.
Quay về, Út Mười cho xe chạy vòng qua đèo Lũng Lô sang địa phận xã Mường Cơi huyện Phù Yên tỉnh Sơn La. Đèo Lũng Lô bây giờ đường được rải nhựa lại có một đường mới đánh vòng không đi qua đỉnh đèo. Xe chạy ngon lành chứ không vất vả như xưa. Nhưng chính vì cái ngon lành ấy mà mà sự hoang sơ của núi rừng tự nhiên không còn dáng vẻ thâm u của đại ngàn như trước. Tự nhủ ngành Kiểm Lâm đến hôm nay còn giữ được rừng như thế này cũng là tốt lắm rồi.
Tạm biệt Mù Cang Chải, tạm biệt Văn Chấn, tạm biệt Yên Bái, chia tay nền Văn hóa Mường Lò, chúng tôi đem quà về bằng chè Suối Giàng, cốm Tú Lệ, mật ong Mù Cang Chải… Đấy là những món quà mua bằng tiền được cân, đo, đong, đếm bằng vật thể sờ thấy, nắm được, có hình dạng rõ ràng. Nhưng chúng tôi còn đem về hàng trăm, hàng ngàn tấm hình với những sắc màu, những gương mặt, những cảnh quan kỳ thú. Chất chứa trong mỗi tấm hình là tiếng gió núi lao sao, tiếng thác nước ào ào, tiếng lá rừng xào xạc hòa quyện với nhau thành bài ca trữ tình mang giai điệu của khúc nhạc mùa thu Tây Bắc, nơi có dãy Hoàng Liên Sơn ngất trời hùng vĩ, nơi có những tấm lòng thơm thảo của những cụ già, những em nhỏ, những chàng trai, cô gái người Mông, người Thái, người Tày… Món quà ấy không thể sờ thấy, không thể cân đo đong đếm bằng định tính, định lượng nhưng giá trị của nó thì bao nhiêu trang giấy, bao nhiêu lời nói để hình dung ra nó lớn đến mức nào cũng còn là chưa đủ.
                                                                                                       22h05 ngày 27/9/2015
                                                                                                                    Cầm Sơn

       

 

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 
 
  Bài viết mới
  Hoạt động đó đây
  Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ trực tuyến 2
Tư vấn tạo web
Hỗ trợ trực tuyến 1
Tư vấn tạo web

Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Phú Thọ

Số 1518 Đại lộ Hùng Vương phường Gia Cẩm thành phố Việt Trì Phú Thọ

Trưởng ban nội dung: Lương Văn Thắng. Phó ban Thường trực: Phùng Văn Vinh.
 Chủ nhiêm Website: nhà văn Nguyễn Đức Sơn
Điện thoại : 02103 818 567 -  Email : soncam52@gmail.com
Bản quyền thuộc Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Phú Thọ